ĐỨC THẦY BỬU SƠN: Là Đức Phật Thầy Tây An với bốn chữ Bửu Sơn Kỳ Hương, tức danh hiệu
tông phái của Ngài.
Đức Phật Thầy quê ở làng Tòng Sơn, thuộc rạch Cái Tàu Thượng. Nay là xã Mỹ An Hưng, tỉnh Sa
Đéc (Nam phần VN).
Ngài sanh vào giờ Ngọ, ngày rằm tháng 10 năm Đinh Mão (1807), niên hiệu Gia Long thứ 8. Ngài
chính danh là Đoàn Minh Huyên, Đạo hiệu Giác Linh. Người trong đạo cũng như ngoài đời đều xưng
tụng Ngài là Đức Phật Thầy Tây An.
Sau khi châu du nhiều nơi, Ngài trở về nguyên quán Tòng Sơn (Sa Đéc) năm 1849, đúng lúc nhân
dân đang lâm vào cảnh nguy khốn, bởi bịnh dịch tả bạo hành. Đức Phật Thầy dùng huyền diệu trị
bịnh cho vạn dân, đồng thời khuyến cáo mọi người nên ý thức thời kỳ Hạ ngươn Mạt pháp để sớm
quay về gốc lành Đạo cũ (Phật tánh). Nhờ cảm lòng từ bi đã cứu cho khỏi bịnh hoặc thoát chết và
nhờ cách hướng dẫn tu hành giản dị, dễ cảm thông nên nhân dân miền Hậu Giang không mấy lúc quy
y thọ giáo với Ngài rất đông đảo.
Trên đường châu du độ thế của Đức Phật Thầy, từ làng Tòng Sơn (Sa Đéc) Ngài vào Trà Bư (Cái
Nai) lên Xẻo Môn và sang Long Kiến (Long Xuyên). Rồi vì một pháp nạn (người ta vu cáo Ngài là gian
Đạo sĩ, thu hút một số đông tín đồ chực cơ làm loạn), nên Ngài bị nhà cầm quyền đưa từ Long Kiến
về Châu Đốc. Đi đến đâu Phật Thầy cảm hóa người ta đến đó, nên sau cơn thử thách, Ngài được trả
tự do và được triều đình vua Tự Đức sắc phong là bậc Chơn Sư Đại Đức.
Từ đó Ngài ở tại núi Sam lấy chùa Tây An làm nơi thuyết giáo. Thỉnh thoảng Ngài cũng vào Láng
Linh và đến Thới Sơn mở cơ phổ hóa. Không bao lâu, tín đồ của Ngài rải rác có mặt khắp miền tây
Nam phần Việt Nam. Còn có số người ở các tỉnh miền Đông nghe danh đều cảm đức cũng tìm đến
quy y hành Đạo.
Đức Phật Thầy chính thức lấy tên cho tông phái mình là Bửu Sơn Kỳ Hương và cấp cho mỗi tín
đồ một lồng phái có triện son, mang bốn chữ báu linh ấy. Một bài thơ khoán thủ của Ngài có bốn
chữ “Bửu Sơn Kỳ Hương”, được truyền tụng mãi đến ngày nay, với sự ẩn ý sâu xa có thể đọc theo
chiều dọc, chiều ngang (tung hoành đọc) đều có nghĩa.
Đây là đọc ngang bài “Tứ Bửu Linh Tự”:
Bửu Ngọc Minh Quân Thiên Việt Nguyên,
Sơn Trung Sư Mạng Địa Nam Tiền,
Kỳ Niên Trạng Tái Tân Phục Quốc,
Hương Xuất Trình Sanh Tạo Nghiệp Yên”.
Và đây là đọc theo chiều dọc:
“Bửu Sơn Kỳ Hương,
Ngọc Trung Niên Xuất
Quân Sư Trạng Trình,
Minh Mạng Tái Sanh.
Thiên Địa Tân Tạo,
Việt Nam Phục Nghiệp,
Nguyên Tiền Quốc Yên”.
Bài thơ có nhiều cao từ ẩn ngữ, cần phải dùng lối chiết tự đảo cú mới khám phá hết nổi ý nghĩa
huyền thâm. Riêng về bốn chữ “Bửu Sơn Kỳ Hương” là danh từ ghép vừa dùng đặt tên cho tông phái,
vừa ý thức cho mọi người, một kỷ nguyên mới trong Phật Giáo với dụng ý là do núi báu ấy (Bửu Sơn)
mà sau nầy non sông sẽ rực rỡ. Còn Kỳ Hương là mùi thơm lạ sẽ bay khắp mười phương, mở một thời kỳ Long Hoa Đại Hội.
Về giáo lý hành Đạo thì Ngài dạy tín đồ hành đúng theo tôn chỉ “Học Phật Tu Nhân”, một đường
hướng và phương pháp tu hành vừa giản dị, vừa dễ chứng đắc, bởi rất thích hợp với căn cơ trình độ
và hoàn cảnh của nhân dân hiện đại.
Suốt thời gian 7 năm hoằng Đạo, từ năm 1849 đến 1856, Ngài độ được hằng vạn tín đồ. Trong
đó có nhiều đại đệ tử gọi là “Thập Nhị Hiền Thủ” được coi như là bậc đã chứng ngộ chân truyền, tiếp
tục giáo hóa quần sanh.(Gồm có những ông:1/- Cử Đa, Đạo hiệu Ngọc Thanh. 2/- Thượng Đẳng Đại
thần Nguyễn Trung Trực. 3/- Cố Quản Trần Văn Thành. 4/- Ông Đạo Xuyến. 5/- Ông Đạo Lập. 6/- Ông
Tăng Chủ. 7/- Ông Đình Tây. 8/- Ông Đạo Ngoạn. 9/- Ông Đạo Thắng. 10/- Ông Đạo Sĩ. 11/- Ông Đạo
Chợ. 12/- Ông Trần Văn Nhu.)
Đức Phật Thầy tịch vào giờ ngọ, ngày 12 tháng 8 năm Bính Thìn (1856) tại Tây An Tự núi Sam,
hiện giờ phần mộ Ngài còn tại đây, có dựng một tấm bia khắc như vầy:
“Ngươn sanh Đinh Mão niên, thập ngoạt thập ngũ nhựt, ngọ thời chú sanh.
Tự Lâm Tế gia chư thiên phổ Tam thập bát thế, thượng Pháp hạ Tạng, Tánh Đoàn, Pháp danh
Minh Huyên, đạo hiệu Giác Linh chi miễn tọa.
Tịch ư Bính Thìn niên, bát ngoạt thập nhị nhựt, ngọ thời thị tịch diệt !”.