« Back to Glossary Index

Đức Phật Thầy Tây An thuở xưa thường khuyến khích các môn nhơn đệ tử rằng: Muốn làm xong hiếu nghĩa có bốn điều ân ta cần phải hy sinh gắng gổ mới mong làm trọn:

1 Ân Tổ Tiên cha mẹ,

2 Ân Đất Nước,

3 Ân Tam Bảo,

4 Ân Đồng Bào và Nhơn Loại

(với kẻ xuất gia thì ân đàn na thí chủ).

Bốn điều ơn. Theo Kinh xưa, bốn ơn là: Ân Phụ Mẫu, Ân Quân Vương, Ân Tam bảo và Ân Chúng sanh. Nay vì muốn cho sự giáo hóa chúng sanh được thích hợp với trào lưu hiện đại, nên Tứ Ân theo Đức Thầy dạy có thay đổi một ít chữ như sau: Ân Tổ Tiên Cha Mẹ, Ân Đất Nước, Ân Tam Bảo, Ân Đồng Bào và Nhơn Loại. Kinh Phật có câu:“Thượng báo tứ trọng ân, Hạ tế tam đồ khổ”.(Trên đáp bốn ân nặng, dưới giúp ba đường khổ)(HĐ: Theo Lão Cư Sĩ Lý Bỉnh Nam thì nghĩa của “tứ trọng ân” trong câu kinh nầy là: Ân Phật, Ân Thầy Tổ, Ân Cha, Ân Mẹ). Đức Thầy nay luôn nhắc nhở:


“Một câu quân lý tứ ân,
Ta đừng phai lợt Phong thần bảng ghi”.
(Để Chơn Đất Bắc)

CẦU TẠI GIA: Cầu nguyện và lễ bái tại nhà. Ý chỉ người cư sĩ (tại gia). Bởi quan niệm rằng: người không có
hiếu thảo thì chẳng làm được việc gì, nếu có hiếu chẳng những đáp được Ân tổ tiên cha mẹ mà còn đáp được trọn vẹn cả 4 ân và tạo được vô lượng phước đức và còn tiến lên đường giải thoát. Vì Kinh Phật đã dạy: 4 ân là đại phước điền. Đức Giáo Chủ luôn nhắc nhở: “Tứ ân đã trả chẳng còn tội căn”, và Ngài còn khuyên: “Lục tự Di Đà
giữ tứ ân”. Kinh xưa hằng dạy:


“Thương thay đời không rõ,
Hai vị Phật tại nhà.
Ấy là cha mẹ đó,
Như Di Lặc, Thích Ca.
Biết thành tâm hiếu kỉnh,
Khỏi cầu công đức xa”.

« Back to Glossary Index