HỮU PHẦN: Có phần, được phần may mắn.
HỮU DUYÊN: Có căn duyên (tiền duyên), trái với vô duyên. Gặp gỡ nhau mà hợp ý với nhau gọi
là có tiền duyên. Tục ngữ thường nói:“Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất
tương phùng”(Có duyên ngàn dặm cũng gần, Không duyên dầu gặp mấy lần cũng xa). Về việc Đạo thì
những ai có căn duyên với Phật pháp, khi gặp Phật hoặc giáo lý của Ngài liền kính tin hành thiện.
Bằng vô duyên thì dầu Phật đứng trước mặt hay ở sát bên, cũng không hề tin nghe. Khế Kinh đã
bảo:“Thuốc không trị được bịnh tới số, còn Phật chỉ độ những ai có duyên lành”(Dược y bất tử bịnh,
Phật hóa hữu duyên nhơn). Đức Thầy thường cho biết:
“Duyên lành rõ được Khùng Điên,
Chẳng qua kiếp trước thiện duyên hữu phần”.
(Viếng Làng Mỹ Hội Đông)
Kinh (zh. 經, sa. sūtra, pi. sutta), nguyên văn là Khế kinh (chữ Hán: 契經), còn được phiên âm là Tu-đa-la (修多羅) hay Tố-đát-lãm (素怛纜), là các bài giảng trong Phật giáo được cho là do chính đức Phật truyền dạy. Các bài giảng này được xếp vào phần Kinh tạng (sa. sūtrapiṭaka) trong bộ Tam tạng (sa. tripiṭaka). Wikipedia
« Back to Glossary Index
