Cô Ký Giỏi tên là Triệu Thị Vạng sinh năm 1897 (Đinh Dậu). Bà là con thứ hai của ông Triệu Vạng Tượng (sanh năm 1863, mất năm 1925) là người Việt gốc Hoa ở Bạc Liêu. Cô thân tướng cao lớn, tay chân dài quý phái. Chồng của cô là ông Võ Văn Giỏi, cựu thơ ký Soái phủ Nam Kỳ tại Châu Thành, Bạc Liêu nên thường được gọi là Bà ký Giỏi hay cô ký Giỏi. Sau lần được Cha cô báo mộng bảo đi tìm Phật quy y. Cô từ Bạc Liêu tìm đến Tổ Đình Hòa Hảo quy y với Đức Thầy (1939). Sau cô được Đức Thầy đặt biệt danh là Diệu Giác. Cô từ trần ngày 27/10/1987 (Đinh Mảo), thọ 96 tuổi.

 

1/.Duyên do Đức Thầy đến ngụ nhà bà Ký Giỏi:

 

Tại Sa Đéc, sau thời gian tra hỏi và cảm phục đức độ của Đức Thầy, Cò Ba-Zin cho biết rằng: “Nay có lệnh nhà nước Lang-Sa cấm Ông Tư Truyền Đạo và cũng cấm không cho ông trở về Thánh địa Hòa Hảo, mà phải tìm nơi nào thân thuộc để an trí tại tỉnh Cần-Thơ”

 

Sáng ngày 18 tháng 04 năm Canh-Thìn, ông thông phán Hồ Viết Long lấy chiếc xe của mình hiệu Renault mang số CL 609 sơn màu dà, đưa Đức Thầy đến nhà ông Hương-Bộ Võ-Mậu-Thạnh (Ở Rạch Sua-Đủa, Kinh xáng Xà-No…Cần-Thơ).

 

Ở đây trên hai tháng, nhà cầm quyền Cần Thơ đòi Ngài đến trình diện, đến đây Ngài bị nhà cầm quyền giữ lại và gởi vô Nhà thương Cần-Thơ khám-bệnh hôm ấy nhằm ngày 29 tháng 6 năm Canh Thìn (1940).

 

Để thử tài Ngài, viên Giám đốc dưỡng đường Cần-Thơ (Bác-sĩ Favot) bảo Ngài nói về đạo Lão (le Taoisme). Đức Thầy bèn giảng-giải một cách lưu-loát lối nửa giờ. Chẳng biết ông Thầy thuốc Chí (Y-sĩ ngạch Đông-Dương đang giúp việc tại đó) thông-ngôn cách nào mà sau lại, khi gặp ông Đỗ-văn-Viễn (Thú y-sĩ ở Cần-Thơ, hiện nay ở Châu-Đốc), Đức Thầy nói: “ Ông Thầy thuốc Chí… thông ngôn không đúng ông à ! “.

 

Với dụng ý muốn quản thúc, ngày mùng 4 tháng 7 năm Canh Thìn (1940), họ đưa Đức Thầy từ Cần Thơ thẳng vào nhà thương Chợ Quán (Sài Gòn) để ”trị bệnh điên”. Đây là bệnh viện lớn nhất tại Sài Gòn thời Pháp thuộc, chuyên khoa truyền nhiễm, phong và tâm thần.

 

Thời gian đầu, họ cử người canh gát nghiêm nhặt và không cho thăm nuôi. Sau ông Luật sư Mai Văn Dậu nhờ quen biết mới tìm được cách vào thăm Đức Thầy.

 

Thời gian ấy, ông Dậu tìm mọi cách để bảo lãnh Đức Thầy ra khỏi nhà thương. Do đó, nhà cầm quyền Pháp cho rằng Ngài tụ tập quần chúng chống lại Nhà nước Lang Sa, nên bắt buộc, ai muốn bảo lãnh Ngài phải kê khai điền sản và làm tờ cam kết nếu Ngài trốn mất hoặc gây bạo động gì sẽ bị tịch biên gia sản. Ông Mai Văn Dậu đã làm đủ thủ tục nhưng họ vẫn lần lựa không chịu thả Đức Thầy.

 

Thời gian sau, do cảm mến đức độ của Đức Thầy bác sĩ Trần Văn Tâm – giám đốc bệnh viện Chợ Quán đương thời – nới lõng sự kiểm sóat nên các tín đồ và thân tộc mới ra vào thăm viếng Đức Thầy được.

 

Ở đây ngót 10 tháng 7 ngày, qua nhiều thử thách ( cho uống acid, tiêm thuốc độc), thấy Ngài không có biểu hiện gì khác lạ và thêm vào sự báo cáo nhận xét tốt của bác sĩ Tâm nên vào ngày 11 tháng 5 năm Tân Tỵ (1941) nhà đương cuộc Pháp cho mời những người đã làm cam kết bảo lãnh Đức Thầy đến để làm thủ tục (ông Mai Văn Dậu) thả Ngài.

 

Khi làm thủ tục họ hỏi Đức Thầy dự tính về ngụ ở đâu ?

Ngài trả lời sẽ về nhà ông Hội đồng Điều ở Bạc Liêu.

 

Họ liền buộc ông hội đồng Điều phải làm tờ cam kết như ông Mai Văn Dậu (kê khai điền sản và làm tờ bảo đảm) ví thế, ông hội đồng Điều sợ quá không dám bảo lãnh.

Khi ấy, ông Võ văn Giỏi liền lên tiếng đồng ý làm các thủ tục cam kết để bảo lãnh Đức Thầy về ngụ nhà ông (lúc ấy ông đã về hưu sau thời gian làm thơ ký cho Soái phủ Nam Kỳ).

 

Sau khi làm đủ thủ tục, nhà cầm quyền Pháp đưa Ngài qua sở Công An Pháp (bót Catina) để điều tra thêm 8 ngày rồi mới chịu thả.

 

Ngày 19 tháng 5 năm Tân Tỵ (1941), Đức Thầy được các tín đồ rước về nhà cô ký Giỏi. Đức Thầy ở nhà cô Ký Giỏi khoảng 485 ngày (tức 1 năm 2 tháng 11 ngày). Bà Ký quy y với Đức Thầy lúc Ngài còn ở làng Hòa Hảo, nên khi Đức Thầy được về ngụ nhà Bà, Bà Ký rất mừng được ở cận bên Thầy để học thêm đạo đức, dĩ nhiên, sự lo lắng giúp đở cho Đức Thầy là điều rất cần thiết đối với bà.

 

Trong thời gian Đức Thầy về ở tại nhà ông Ký Giỏi, nhà cầm quyền Pháp canh gát rất nghiêm nhặt không cho ai đến viếng thăm Đức Thầy và mổi đầu tuần có lính đến mời Ngài đi trình diện, dù trời mưa hay nắng.

 

Cảm mến đức độ của Đức Thầy và sau sự việc Đức Thầy chữa đám cháy cây xăng cách xa hàng km và làm cho cây quạt điện tự động quay, ông Ký giỏi và 3 người bạn tây học xin thọ lễ quy y với Đức Thầy.

 

Ông Ký Giỏi là tín đồ mẩu mực “quy y thì phải làm y” từ đó chuyên cần hành đạo. Ông tạo một phòng riêng trong nhà, vào đó giữ cái yên lặng mà tu tâm dưỡng tánh. Ít khi ra khỏi phòng, bởi vì thường tu nên Ông mặc áo choàng dà suốt, tiếp khách đến bất ngờ Ông cũng nghiêm trang đạo phục như thế. Được Đức Phật A Di Đà hiện đến thọ ký vãng sanh, Ông đem chuyện báo cho người trong nhà biết để theo dõi. Trong khi sức khõe Ông rất tốt, không có dấu hiệu bệnh hoạn.

 

Chiều ngày mùng 5 tháng 9 năm Quý Tỵ 1953, Ông tự tắm rửa sạch sẽ thì tối đến rạng 26 Ông được Đức Phật Di Đà rước về cõi Tây Phương, hưởng thọ 61 tuổi.

 

Năm 1953, Ông Ký qua đời, là rễ nên ông được chôn cất trong khu mộ rộng bề thế của gia tộc của họ Triệu. Trong khu nầy, mộ của Ông cận liền có một vuông xây viền rào để sẵn, chờ lúc bà Ký trăm tuổi già đến đây mà an nghỉ. Gia tộc đã tạo sẵn chỗ cho bà kề cận bên chồng nhưng bà không theo đó và đã qua đời năm 1987 hưởng thọ 90 tuổi mộ phần nay ở tỉnh Bình Dương !

 

 

2/.Bài thơ “ Cho Cô Ký Giỏi”

 

Đến ngày 02 thánh 09 năm Nhâm-Ngũ (1942) chính-quyền Pháp quyết-định đưa Đức Thầy sang Lào. Một số tín đồ thân tín hay tin đã tổ chức bất ngờ đưa Ngài về Sài Gòn ở đường Lơ-pheo (lefebvre)- Nguyễn Công Trứ thoát khỏi sự kềm chế của nhà cầm quyền Pháp.

 

 

Trong một lần, các bà điền chủ (ở Bạc Liêu) bạn của Cô Ký Giỏi trò chuyện với nhau (khoảng năm 1944 – thời gian sau khi Đức Thầy đã về Sài Gòn). Các bà bàn luận rằng mình điền sản muôn vạn, không biết khi nào đời tới, sợ khi đời tới, chết bỏ lại nhiều tiền của thì uổng quá. Cô Ký mới hứa sẽ lên Sài Gòn hỏi Đức Thầy xem khi nào thì “Đời tới” rồi về kể lại cho mấy bà bạn nghe. Vì theo Cô, chỉ có Đức Thầy mới giải đáp được nghi vấn nầy.

 

Thời gian sau, Bà lên thăm Đức Thầy …và dù ở lại đã 7 ngày mà vẫn không có dịp hỏi Ngài, lại đến lúc phải từ giã về Bạc Liêu, không biết phải trả lời sao cho các bà bạn vì khi đi Cô đã hứa. Hiểu được tâm trạng Cô, Đức Thầy tặng bài thơ “ Cho Cô Ký Giỏi” như chúng ta đã biết.

 

Trong thời gian Đức Thầy ngụ tại 168, 150, 38 đường Lefèbre, văn phòng số 8 góc đường Sohier-Miche, Sài Gòn ( thay đổi chỗ ở nhiều lần ) cô Ký thường xuyên tới, lui và đảm nhiệm việc cơm nước, chăm sóc Đức Thầy và các anh em tín đồ từ miền Tây lên tá túc với Đức Thầy tại văn phòng.

 

Năm 1946, Đức Thầy vào chiến khu miền Đông đến ngày 7/4/1947, Ngài di chuyển bằng ghe làng Phú Thành quận Chợ Mời tỉnh Long Xuyên ( nay là huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp). Ngài mượn nhà ông chủ Bộ đặt văn phòng, cô Ký vẫn luôn theo bên cạnh Đức Thầy.

 

Chiều ngày 23 tháng 2 nhuần năm Đinh Hợi (16/4/1947), Đức Thầy và một số tín đồ chuẩn bị xuống ghe dự tính theo con rạch Ba Răng hướng về An Phong để đi dự hội nghị theo thơ mời của ông Trần Văn Nguyên. Các tín đồ tại văn phòng Phú Thành xuống bến tiễn Đức Thầy có ông Nguyễn-Giác-Ngộ, ông Mai-Văn- Dậu cô Ký Giỏi và một vài người khác.

 

Cô Ký thưa: Bạch Thầy cho con đi theo Thầy.

 

Đức Thầy vừa cười vừa nói: “Cô Diệu đi theo nào giải quyết được việc gì ! Tôi đâu có sanh (đẻ) Cô để trả cho ông Ký được”.

 

Thầy kiện Dậu thấy cô bịn rịn bèn nắm tay kéo Cô lên bờ.

 

3/.Đức Thầy dặn dò cô sáu Nguyễn thị Nhạn giúp đở cô Ký Giỏi:

 

Lúc Đức Thầy bị Pháp dời đến ở nhà của Bà Ký Giỏi, có cô sáu Nguyễn thị Nhạn từ Sài Gòn len lỏi vào nhà Bà Ký Giỏi kính viếng Đức Thầy.

 

Xong phần kính viếng, bà hỏi học đạo lý nơi Đức Thầy,.

 

Sau đó, Đức Thầy nói với cô Sáu Nhạn rằng: “Nữa sau tôi nhờ bà chăm sóc, giúp đở bà Ký”.

 

Bà Sáu Nhạn đáp nhanh: “Kính bạch Thầy, con từ Sài Gòn vào thăm chứ đâu phải người trong đây mà Thầy kêu con chăm sóc giúp đở bà Ký”

 

“Việc đó Tôi biết” _ Đức Thầy xác định với cô sáu.

 

Đức Thầy không giải thích, nhưng ở chỗ huyền vi. Lời của Ngài phát ra cho Bà Sáu Nhạn là một tiếng lệnh phải thi hành. Quả thật, sau này, Bà Ký Giỏi trong những năm tháng cuối đời đã phải đến nương thân dưỡng bệnh ở nhà bà Sáu Nhạn, chết chôn tại đó.

Sau tháng 4/1975, nhà của ông, bà Võ Văn Giỏi bị chính quyền tiếp quản bố trí làm Thư Viện tỉnh Bạc Liêu ( hiện nay, tỉnh Bạc Liêu đã xây xong Thư Viện mới, nên nhà nầy bố trí tham quan du lịch trong chuỗi phố Tây ở Bạc Liêu) con cái vượt biên tản lạc.

Bà Ký phải sống cuộc đời vô gia cư, còn đi đứng vững vàng thì đi gieo duyên đây đó, lúc bệnh hoạn dùng hết sức lực thiên cơ đã đưa bà về chỗ Đức Thầy đã đặt trước, để cho bà Sáu Nhạn thi hành đúng lệnh Thầy ban.

 

Lời tiên tri của Đức Thầy bảo cô sáu Nhạn giúp đở chăm sóc cho bà Ký, dù trước kia bà Sáu Nhạn không tin là sự thật, thì những năm cuối đời, bà Ký già yếu bệnh tật, hết đi làm đạo được đã về ờ với bà Sáu tại Bình Dương. Vì có lệnh chăm sóc bà Ký từ ơn trên, nên cô sáu phải chịu chờ cho đến bà Ký được bốn năm mãn phúc và lo mồ yên mả ấm, thì cô sáu mới mãn phúc ngày 22/4/1991.

 

Tại ngôi mộ, trên tấm bia để di ảnh Bà, hai bên liên cận có trích ghi 4 câu thơ trong bài “Cho Cô Ký Giỏi Ở Bạc Liêu” như sau:

 

“Cô hai cô đã đi về,

Mà sao tâm-não nhiều bề ưu-tư.

Làm sao gở mối sầu tư,

Cho Thầy cho bạn cũng như cho mình”

Miss Ky Giói, whose real name was Triệu Thị Vạng, was born in 1897 (Đinh Dậu). She was the second child of Mr. Triệu Vạng Tượng (born 1863, died 1925), a Vietnamese of Chinese descent in Bạc Liêu. She had a tall stature and elegant long limbs. Her husband was Mr. Võ Văn Giỏi, a former secretary of the Nam Kỳ Soái phủ in Châu Thành, Bạc Liêu, so she was often called Mrs. Ky Giói or Miss Ky Giói. After her father had a dream instructing her to seek refuge in Buddhism, she traveled from Bạc Liêu to Tổ Đình Hòa Hảo in 1939 to take refuge with Đức Thầy. Later, Đức Thầy gave her the special nickname Diệu Giác. She passed away on October 27, 1987 (Đinh Mão), at the age of 96.


1/. The reason Đức Thầy stayed at Mrs. Ky Giói’s house:


In Sa Đéc, after a period of questioning and being impressed by Đức Thầy’s virtue, Cò Ba-Zin said: “Now there’s an order from the Lang-Sa government prohibiting Ông Tư Truyền Đạo and also not allowing him to return to the Hòa Hảo sanctuary, so he must find a familiar place to stay in Cần-Thơ province.”


On the morning of April 18 in the year of Canh-Thìn, Mr. Hồ Viết Long took his Renault car with license plate CL 609 painted in the color dark red, take Master Đức to Mr. Hương-Bộ Võ-Mậu-Thạnh’s house (In Rạch Sua-Đủa, Xà-No canal…Cần-Thơ).


After being there for over two months, the authorities in Can Tho demanded his presence. Upon arrival, he was detained and sent to the Can Tho Hospital for examination on June 29th, 1940 (the year of Canh Thin). 


To test his abilities, the director of the Can Tho hospital (Dr. Favot) asked him to speak about Taoism. The Master then explained fluently for about half an hour. It’s unclear how Doctor Chi (an Indochinese stream physician working there) interpreted it, but later, when meeting Mr. Do Van Vien (a veterinarian in Can Tho, now residing in Chau Doc), the Master said: “Doctor Chi… interpretation is incorrect!” 


With the intention of keeping him under house arrest, on July 4th, 1940 (the year of the Dragon), they took the Master directly from Can Tho to Cho Quan Hospital (Saigon) to “treat his mental illness.” This was the largest hospital in Saigon during the French colonial period, specializing in infectious diseases, leprosy, and mental disorders. 


Initially, they assigned guards to strictly watch over him and forbade visits. Later, lawyer Mai Van Dau, through his connections, found a way to visit the Master. During that time, Mr. Dau tried every means to secure the Master’s release from the hospital. Because the French authorities believed he was gathering people to oppose the French government, they required anyone who wanted to bail him out to declare their property and sign a commitment stating that if he escaped or caused any violence, their property would be confiscated. Mr. Mai Van Dau completed all the necessary procedures, but they still refused to release the Master.


At that time, Mr. Dậu tried every way to secure the release of Đức Thầy from the hospital. The French authorities, believing that He was gathering people against the Lang Sa government, required anyone who wanted to guarantee His release to declare their property and make a written commitment that if He escaped or caused any disturbance, their assets would be confiscated. Mr. Mai Văn Dậu completed all the procedures, but they still hesitated to release Đức Thầy.


Later, because of the respect for Đức Thầy’s virtue, Dr. Trần Văn Tâm – the director of Chợ Quán Hospital at the time – loosened the controls, so followers and relatives were then able to visit Đức Thầy.


After nearly 10 months and 7 days, through many trials (giving Him acid, injecting poison), seeing that He showed no unusual symptoms and coupled with Dr. Tâm’s positive reports, on May 11 in the year Tân Tỵ (1941), the French authorities summoned those who had made the guarantee (including Mr. Mai Văn Dậu) to complete the procedure to release Đức Thầy.


During the procedure, they asked Đức Thầy where He intended to stay.

He replied that He would go to Mr. H’s house at Bac Lieu.


They immediately forced Councilor Điều to make a pledge just like Mr. Mai Văn Dậu did (declaring property and making a guarantee form), so Councilor Điều was too scared to act as a guarantor.

At that time, Mr. Võ Văn Giỏi immediately spoke up and agreed to carry out the pledge procedures to guarantee Đức Thầy lodging at his house (by then he had retired after working as a secretary for the Nam Kỳ Governor’s office).

After completing all the procedures, the French authorities took Ngài to the French Police station (Catina station) for an additional 8 days of investigation before finally releasing Him.


On May 19th, the year Tân Tỵ (1941), Đức Thầy was escorted home to Ms. Ký Giỏi by the followers. Đức Thầy stayed at Ms. Ký Giỏi’s house for about 485 days (i.e., 1 year, 2 months, and 11 days). Ms. Ký had become a disciple of Đức Thầy when He was still in Hòa Hảo village, so when Đức Thầy stayed at her house, she was very happy to be close to Him to further learn about morality. Naturally, the concern and help she provided for Đức Thầy were very important to her.


During the time Master stayed at Mr. Ky Giai’s house, the French authorities guarded very strictly, not allowing anyone to visit Master, and every beginning of the week, soldiers would come to summon Him to report in, rain or shine. 


Impressed by Master’s virtue and after witnessing Master extinguishing a fire at a gas station kilometers away and making an electric fan spin automatically, Mr. Ky Giai and three Western-educated friends asked to be initiated in the refuge ceremony with Master. 


Mr. Ky Gioi was a devoted follower, believing that ‘taking refuge means following properly,’ and from then on diligently practiced the faith. He created a private room in the house where he maintained silence to cultivate his mind and character. He rarely left the room, and because he practiced regularly, he always wore a long robe; even when unexpected visitors came, he was solemnly dressed in his religious attire. When Amitabha Buddha appeared to him and confirmed his rebirth in the Pure Land, he shared the news with his family to follow. While his health was very good, showing no signs of illness, on the afternoon of the 5th day of the 9th month of the Quý Tỵ year, 1953, he bathed and cleaned himself, and by the night of the 26th, Amitabha Buddha welcomed him to the Western Pure Land. He lived to 61 years old. 


In 1953, Mr. Ký passed away, being a root ancestor, he was buried in the spacious family grave of the Triệu clan. In this area, right next to his grave, there is a square plot built with a fence ready, waiting for Mrs. Ký to come here to rest at her hundredth year. The family had prepared a place for her next to her husband, but she did not follow this plan and passed away in 1987 at the age of 90; her grave is now in Bình Dương province! 


2/. The poem “For Cô Ký Giỏi” 


On September 2nd, 1942 (the Year of the Nhâm-Ngũ), the French authorities decided to send Đức Thầy to Laos. Some loyal followers, upon hearing the news, organized a surprise to bring Him back to Saigon, to Lefebvre Street – Nguyễn Công Trứ, escaping the control of the French authorities. 


On one occasion, some landowners (in Bạc Liêu), friends of Cô Ký Giỏi, were chatting with each other (around 1944 – after Đức Thầy had returned to Saigon). They discussed that they had vast estates, never knowing when their end time would come, afraid that when the end time comes, dying and leaving behind much wealth would be a waste. Cô Ký then promised she would go to Saigon to ask Đức Thầy when the tend time would be as according to her, only the Master could answer this question.


Later, she visited Đức Thầy… and even though she stayed for 7 days, she still didn’t get a chance to ask him. It was time to leave for Bạc Liêu, and she didn’t know how to answer her friends since she had promised to tell them. Understanding her feelings, Đức Thầy gifted her the poem “For Cô Ký Giỏi” as we know. During the time Đức Thầy stayed at 168, 150, 38 Lefèbre Street, office number 8 at the corner of Sohier-Miche Street, Saigon (moving around frequently), Cô Ký often came and went, handling meals and taking care of Đức Thầy and the disciples from the Mekong Delta who stayed with him at the office.


In 1946, Đức Thầy went to the Eastern war zone and by April 7, 1947, he traveled by boat from Phú Thành village, Chợ Mời district, Long Xuyên province (now Thanh Bình district, Đồng Tháp province). He borrowed the house of the head of the Ministry to set up an office, and Cô Ký always stayed by Đức Thầy’s side. 


On the afternoon of the 23rd day of the second lunar month in the year of Đinh Hợi (April 16, 1947), Đức Thầy and some disciples planning to board the boat, traveling along the Ba Răng rivulet toward An Phong to attend the conference on the invitation of Mr. Trần Văn Nguyên. Followers at the Phú Thành office went down to the pier to see off Đức Thầy, including Mr. Nguyễn-Giác-Ngộ, Mr. Mai-Văn-Dậu, Miss Ký Giỏi, and a few others. 


Miss Ký said, ‘Master, let me go with You.’ Đức Thầy smiled and said, ‘Miss Diệu, what good would it do for you to follow me! I didn’t give birth to you just to return you to Mr. Ký.’ Mr. Dậu saw she was reluctant, so he took her hand and helped her up onto the shore. 


3/. Đức Thầy instructed Miss Nguyễn Thị Nhạn to assist Miss Ký Giỏi: 


When Đức Thầy was moved by the French to live at Mrs. Ký Giỏi’s house, Miss Nguyễn Thị Nhạn from Saigon sneaked into Mrs. Ký Giỏi’s house to pay respects to Đức Thầy. After the visit, she asked about learning the teachings from Đức Thầy. Later, Đức Thầy told Miss Nhạn, ‘In the future, I’ll rely on you to take care of and help Mrs. Ký.’


“I know about that,” the Master affirmed to Ms. Sau.


The Master didn’t explain, but in the mystical sense, His words to Mrs. Sau Nhan were a command that had to be carried out. Indeed, later on, Mrs. Ky Gioi, in her final years, had to depend on Mrs. Sau Nhan for care, and she passed away there.


After April 1975, Mr. and Mrs. Vo Van Gioi’s house was taken over by the authorities and set up as the Bac Lieu Provincial Library (now, Bac Lieu province has built a new library, so this house is arranged as a tourist spot in the Western Street area of Bac Lieu), and their children fled abroad and became scattered.


Mrs. Ky had to live a homeless life, but while she was still able to walk steadily, she went around spreading kindness. When she became sick, all the heavenly forces worked to bring her to the place the Master had predetermined, allowing Mrs. Sau Nhan to carry out the Master’s command correctly.


The Master’s prophecy instructed Ms. Sau Nhan to help and care for Mrs. Ky. Even though Mrs. Sau Nhan didn’t believe it was true at first, in the final years, with Mrs. Ky old and sick and no longer able to serve the faith, she went to live with Mrs. Sau in Binh Duong because there was a command to take care of Mrs. Ký from above, Aunt Six had to wait until Mrs. Ký had been blessed for four years and her grave was properly cared for before Aunt Six could find peace on April 22, 1991. 


At the grave, on the tablet holding her portrait, on both sides are four lines of poetry from the poem 

“For Aunt Ký Who Lived Well in Bạc Liêu” as follows:

“Second aunt, you have gone away, 

Yet why is the mind full of worries? 

How to untangle these sorrows, 

For the Teacher, for friends, and for oneself.”