Nghĩa của chữ Thất sơn, tức là bảy núi ở vùng tỉnh Châu Đốc, gần biên thùy Miên-Việt. Bảy ngọn núi ấy gồm có:
1.- Anh Vũ sơn (núi Két): Cao 125m, thuộc xã Thới Sơn, quận Tịnh Biên (Châu Đốc). Sở dĩ núi nầy lấy tên núi Két, là vì trên chót mỏm đá giống hình mỏ chim két.
2.- Ngũ Hồ sơn (Núi Dài Năm Giếng, gần núi Két): Chưa biết rõ cao bao nhiêu thước, trên giữa núi có 5 giếng nước nhỏ.
3.- Thiên Cẩm sơn (núi Gấm Trời): Cũng có tên là núi Cấm, cao 716m, dài 7.500m, ngang 6.800m, nằm giữa hai quận Tịnh Biên và Tri Tôn (Châu Đốc). Núi nầy khi xưa có tên núi Gấm. Có lẽ vì các rặng cây xanh và các chỏm đá trắng, trên núi có “Tứ vi mây phủ nhiễu đoanh” mà hiện ra màu gấm vóc đẹp xinh. Nhưng sau nầy có mang tên núi Cấm là vì khi xưa Hoàng tử Nguyễn Ánh bị giặc Tây Sơn truy nã, có ẩn ánh tại núi nầy, các quan ra lịnh cấm không cho dân chúng đến, viện lẽ nói nơi đây có nhiều ác thú.
-Cũng có người cho rằng vì Đức Phật Thầy Tây An tiên tri ngày sau tại núi nầy sẽ có đền vàng điện ngọc của Thánh Vương, nên Ngài cấm các đệ tử không cho cất chùa hay ở trên nầy để tránh sự làm ô uế non linh. Điều nầy, Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng có căn dặn tín đồ như thế.
4/- Liên Hoa sơn (núi Tượng): Cao 115m, dài 600m, ngang 400m, thuộc xã Ba Chúc, quận Tri Tôn (Châu Đốc). Sở dĩ có tên núi Tượng vì đứng xa nhìn lên chót thấy giống hình con voi.
5/- Thủy Đài sơn (núi Nước gần núi Tượng): Cao 50m, cùng thôn với núi Tượng.
6/- Ngoạ Long sơn (núi Dài): Cao 580m, dài 8.000m, thuộc quận Tri Tôn (Châu Đốc). Người ta đặt tên như thế vì núi nầy dài tới 8 cây số ngàn giống hình con rồng nằm.
7/- Phụng Hoàng sơn (núi Tô): Cao 614m, dài 5.800m, ngang 3.700m, thuộc quận Tri Tôn (Châu
Đốc).
Trên đây là dẫn theo tài liệu nhiều người kể lại, nhưng xét ra miền bảy núi còn có nhiều ngọn núi nữa, như núi Trà Sư, núi Bà Đội Om, núi Nam Vi, v.v…Vì vậy nên danh từ Thất sơn (bảy núi) còn có nghĩa chỉ chung tầt cả đồi núi thuộc tỉnh Châu Đốc.
Ông Ba Thới có câu:
“Mắt đoái nhìn Tiên cảnh Thất sơn,
Ngùi ngùi nhớ Chúa đội ơn lộc Thầy”.
Đức Thầy nay cũng bảo:
“Miền bảy núi mà sau báu quí”.(Kệ Dân, Q.2)
Hoặc là:
“Trên Bảy Núi còn nhiều báu lạ,
Rán tu tâm dưỡng tánh coi đời”.(Kệ Dân, Q.2)

