Cụ Trạng họ Nguyễn, húy Bỉnh Khiêm, tự Hạnh Phủ, hiệu là Bạch Vân Cư Sĩ, đời sau gọi Ngài là Tuyết Giang phu tử. Cụ sinh năm Tân Hợi (1491), đời vua Lê Thánh Tôn, niên hiệu Hồng Đức thứ 22, tại làng Cổ Am (Trung An), huyện Vĩnh Lạc (nay là Vĩnh Hảo), tỉnh Hải Dương, Bắc phần Việt Nam.
Thân sinh là ông Văn Đình, sau được nhà Mạc truy tặng chức Thái Bảo Nghiêm Quận Công. Thân mẫu là con gái quan Hộ Bộ Thượng thư Nhữ văn Lâu; sau Bà được truy phong là Từ Thục Phu nhân.
Thuở nhỏ Ông thông minh khác thường. Mới bốn tuổi ông được song thân tận tình chỉ dạy truyền khẩu, những nghĩa lý trong Tứ Thơ, Ngũ Kinh cùng các kinh truyện khác. Lớn lên, Ông theo học với quan Bảng Nhãn Lương Đắc Bằng, người làng Hội Trào, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nguyễn Bỉnh Khiêm học rất giỏi và nổi tiếng về văn thơ.
Một hôm Lương Đắc Bằng đau nặng, biết không thể sống được, bèn trao cho Bỉnh Khiêm một quyển sách tên là Thái Ất Thần Kinh, quyển sách nầy trước kia do người Tàu tặng cho Ông khi Ông đi sứ sang Trung Quốc. Nguyễn Bỉnh Khiêm cố công nghiên cứu sách ấy, chẳng bao lâu Ông thông suốt những huyền vi của Trời Đất. Từ đó, Ông nổi tiếng về khoa Lý số.
Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, trong nước loạn lạc, Ông không chịu xuất chính. Nhưng nhà Mạc buộc các sĩ phu phải ra ứng thí để triều đình tuyển chọn hiền tài giúp nước. Nhân có mẹ già cần đủ y thực cung phụng, và nhiều bạn hết sức khuyên giải, Ông mới miễn cưỡng lai Kinh ứng thí.
Lúc 44 tuổi Ông đỗ Giải Nguyên kỳ thi Hương. Năm sau thi Đình, Ông đỗ Trạng Nguyên, nhằm niên hiệu Đại chính, đời vua Mạc Đăng Doanh.
Ông được nhà Mạc phong chức Lại Bộ Tả Thị Lang kiêm Đông Các Đại Học sĩ. Làm quan được 8 năm, Ông có dâng sớ hạch tội và xin Vua nghiêm trị bọn lộng thần; nhưng thấy không hiệu quả Ông bèn từ quan (1542, đời Mạc Phúc Hải) về trí sĩ. Khi về làng, Ông lập một cái am để tu dưỡng, đặt tên là “Bạch Vân Am”, lấy hiệu là Bạch Vân Cư sĩ. Ông cũng có dựng lên một cái nhà nghỉ mát bên sông Tuyết Giang, đặt tên là Trung Tâm Quán. Do đó về sau môn đệ của Ông tôn xưng là Tuyết Giang Phu tử.
Tuy về trí sĩ nhưng nhà Mạc vẫn tôn trọng Ông vô cùng. Có công việc gì khó giải quyết, họ đều đến hỏi Ông. Sau hai năm trí sĩ, nhà Mạc lại phong cho Ông chức Trình Nguyên Hầu, rồi lại thăng chức Lại Bộ Thượng thư, tước Trình Quốc Công, nên người đời mới gọi Ông là Trạng Trình.
Là một bậc túc nho, thông kim bác cổ, một sĩ phu tài danh lỗi lạc, cũng là một nghệ sĩ có tâm hồn phóng khoáng với những cảm hứng chân thành và cũng là một nhà lý số chân chính, Ông thường dùng thi ca để truyền bá tư tưởng và đạo đức, vừa có tánh cách giáo dục người đời và vừa tiên tri thời cuộc sắp đến. Về Hán văn, Ông có viết một tác phẩm nhan đề là “Bạch Vân Am Tập”, gồm có cả ngàn bài thơ vịnh cảnh, tả tình. Về thơ Nôm có tập “Bạch Vân Quốc Ngữ Thi”. Trong tập nầy, những bài thơ thường không có đề mục nhất định, có những bài tả cảnh, tả tình, tán thưởng cuộc đời nhàn hạ, hoặc nói về nhơn tình thế thái. Hiện nay chỉ còn lối 500 bài chữ Hán và 100 bài chữ Nôm, cùng một ít bài Sấm ký.
Chẳng những toàn nước Việt Nam mà đến người Trung Hoa cũng phục tài tiên tri của Ông, nên có lời ca tụng:“An Nam lý học hữu Trình truyền”.(Nước Việt Nam có ông Trạng Trình là bậc tinh thông về khoa Lý học).
Vì thế, từ vua tôi nhà Mạc đến Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn đều một lòng tôn kính, và thường tới lui thăm viếng, để nhờ ông đoán việc mai hậu.
Sử chép: Khi Trạng Trình lâm trọng bịnh, Mạc Mậu Hợp biết ông là người thông suốt việc quá khứ vị lai, bèn sai con đến thăm và hỏi hậu vận nhà Mạc. Ông bảo:“Nếu sau nầy có biến, nên rút về mạn Cao Bằng. Chỗ nầy tuy nhỏ, nhưng cũng dung thân được vài đời”. Nhà Mạc nhớ lời Ông, quả nhiên về sau, nhà Lê Trung Hưng đánh bại nhà Mạc, con cháu nhà Mạc thất thế chạy lên chiếm cứ mạn Cao Bằng Lạng Sơn, yên thân ở đây và truyền được hai đời Vua nữa, trước sau được 70 năm nhà Mạc mới dứt. Lại có truyện: Nguyễn Kim chết, người rể là Trịnh Kiểm chiếm giữ binh quyền, giết em vợ là Nguyễn Uông,
Nguyễn Hoàng là em ruột sợ vạ lây, liền cho người đến vấn kế Ông. Ông dắt ra chỉ đàn kiến đang bò ở hòn non bộ, cười nói:“Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân”(Một dãi Hoành Sơn, có thể yên thân muôn đời). Nguyễn Hoàng hiểu ý, rồi nhờ chị là Ngọc Bảo Công Chúa năn nỉ với anh rể là Trịnh Kiểm xin cho vào trấn đất Thuận Hóa. Nhờ đó, mà Nguyễn Hoàng được cơ hội xây dựng sự nghiệp lâu dài, ứng vào lời tiên tri của Ông.
Trạng Trình còn tiên tri việc người Pháp (thằng Tây) bị mất quyền tại Việt Nam, từ ngày, tháng, năm không sai một mảy:
“Đầu xuân gà gáy hăm tư,
Thầy tăng mãn hạn hoa trư tuyệt kỳ”.
Đầu xuân chỉ cho tháng giêng, gà gáy là năm Ất Dậu (1945), hăm tư là đêm 24 sáng 25, Thầy tăng nói lái lại là thằng Tây. Vậy hiểu chung là chỉ cho người Pháp bị mất quyền tại Việt Nam vào đêm 24 rạng 25 tháng Giêng năm Ất Dậu (nhằm ngày 09/03/1945) do Nhựt đảo chánh Pháp.
« Back to Glossary Index
