« Back to Glossary Index
Categories: Lục-Tỉnh

Sáu Tỉnh của Nam Việt Nam (tiếng Việt: Nam Kỳ Lục tỉnh, 南圻六省 hoặc chỉ Lục tỉnh, 六省) là tên gọi lịch sử của vùng Nam Việt Nam, được gọi bằng tiếng Pháp là Basse-Cochinchine (Cochinchina thấp, hay Hạ Đàng Trong). Vùng này được xác định và thiết lập về mặt chính trị sau khi triều Nguyễn được khai lập vào năm 1802, và được gọi bằng tên này từ năm 1832, khi Hoàng đế Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính. Sáu tỉnh mà Hoàng đế Minh Mạng chia Nam Việt Nam vào năm 1832 gồm có: Phan Yên, sau đổi tên thành Gia Định (kinh đô tỉnh: Sài Gòn) Biên Hòa (kinh đô tỉnh: Biên Hòa) Định Tường (kinh đô tỉnh: Mỹ Tho) Vĩnh Long (kinh đô tỉnh: Vĩnh Long) An Giang (kinh đô tỉnh: Châu Đốc) Hà Tiên (kinh đô tỉnh: Hà Tiên) Những tỉnh này thường được chia thành hai nhóm: ba tỉnh phía đông gồm Gia Định, Định Tường và Biên Hòa; và ba tỉnh phía tây gồm Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

Cũng như từ Lục tỉnh, tức sáu tỉnh Nam phần Việt Nam. Vào thời nhà Nguyễn, vua Gia Long chia làm 6 trấn: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Long Hồ, An Giang, Hà Tiên. Đến năm Tân Mão (1831), vua Minh Mạng đổi sáu trấn ra sáu tỉnh, tức là sáu châu. Đến thời Pháp thuộc, sáu châu được chia làm 20 tỉnh, rồi 21 tỉnh, tức thêm tỉnh Vũng Tàu, trước đó thuộc Bà Rịa. Danh từ “dạo lục châu” được Đức Giáo Chủ đề cập nhiều lần trong Sấm Giảng Thi Văn của Ngài:


“Khắp sáu châu nức tiếng người đồn”.(Sa Đéc)
Hay là:
“Lục châu chưa giáp mà lòng ủ ê”.( Q.1)

Chú Giải Thi Văn Giáo Lý (1975)

« Back to Glossary Index