« Back to Glossary Index

Đức Huỳnh Giáo Chủ thường nhắc đến hai từ Nam-Việt thay vì Việt Nam. Có một số lý do chúng ta có thể đoán định hai từ này ám chỉ phần đất mà người Pháp gọi là Nam Kỳ Lục Tỉnh, hay Cochinchine. Phạm vi ngài chu du hoằng pháp, những tài liệu ngài để lại, nói về sáu tỉnh miền Nam, như trong quyển một Sám Giảng, có tựa đề Di Dạo Luc Châu.

Theo tác giã Thiện Tâm, ngài cũng hay nói đến Phương Nam, có thể đây ám chỉ nước Việt Nam. Cũng có nghĩa cõi Nam Diêm Phù Đề, tức Nam Thiện Bộ Châu, một trong 4 châu lớn ở cõi Ta bà. Đức Thầy từng cho biết:


“Cõi trung ương luân chuyển phương Nam,
Mở hội Thánh chọn người trung hiếu”.
(Diệu Pháp Quang Minh)

Tầm vóc của Phương Nam theo những gì ngài viết trong Sám Giảng hay Thi Văn Giáo Lý sau đây phải nói vượt ra ngoài không gian của miền Nam Việt Nam như một nơi tựu hội của Thần Tiên trong tương lai.

Phương Nam rạng ngọc chói lòa,
Lưu-ly hổ-phách mấy tòa đài cung.
Dành cho kẻ lòng trung chánh-trực,
Quân cùng Thần náo-nức vui-tươi.
Liên-hoa đua nở nụ cười,
Rước tôi lương-đống chào người chơn tu.
Thế-gian thoát chốn ngục-tù,
Thần Tiên hiệp mặt thì cù hóa long.

(Xuân Hạ Tác Cuồng Thơ)

Quốc hiệu nước Việt Nam vào thời nhà Triệu (206-111 TCN). Theo tác giả Thiện Tâm, Thời Nhà Nguyễn gọi Nam Việt là miền Nam nước Việt Nam, thời Pháp thuộc gọi là Nam Kỳ.

« Back to Glossary Index