Đức Huỳnh Giáo Chủ thường nhắc đến hai từ Nam-Việt thay vì Việt Nam. Qua câu thơ, “Chẳng qua vì Nam-Việt vô vương, Nên tai ách xảy ra thảm thiết.”, chắc chắn ngài không nói về miền Nam Việt Nam mà cả nước Việt Nam, vào thời gian mà toàn thể nước Việt Nam đã bị hệ thống thực dân kiểm soát từ Ải Nam Quan đến Mủi Cà Mau, hơn bốn mươi năm. Việt Nam là danh xưng chánh thức của mãnh đất hình chữ S từ khi vua Gia Long chính thức lên ngôi và tuyên bố triều đại của ngài năm 1804 và danh xưng có thời gian thay đổi. Vua Gia Long cầu phong trước vua Nhà Thanh bên Trung Hoa có tên là Nam-Việt. Đến thời vua Minh Mạng và đến khi Nhật Bản vào Đông Dương, tên nước lắy tên là Đại Nam, đó là thời gian giữa 1887-1945. Đến năm 1945, tên nước Việt Nam lấy lại là Liên Bang Đông Dương, rồi Đế Quốc Việt Nam, khi Nhật Bản xâm lược. Mắc dù sau này tên Việt Nam được tái sử dụng, nhưng thêm các từ Dân Chủ, Cộng Hòa, tùy theo ở miền Nam hay miền Bắc sau khi đât́ nước bị phân chia thành hai miền, Việt Nam Dân Chủ đối với miền Bắc và Việt Nam Cộng Hoà cho miền Nam. Sau ngày 30 tháng 4, 1975, hai miền thống nhất với danh xưng Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Tóm lại, danh xưng Nam-Việt mà Đức Huỳnh Giáo Chủ sử dụng trong Sám Giảng Thi Văn phản ảnh tên nước do vua Gia Long cầu phong với Hoàng Đế Trung Hoa. Thật ra, danh xưng này nếu hiểu theo ngôn ngữ Trung Hoa đó chính xác là Việt Nam vì khi dùng tiếng Hoa, người viết thường hay viết hai danh từ đão ngược lại với lối viết của người Việt. Người Pháp suốt 85 năm cai tri nước Việt, họ không dùng tên Việt Nam vì họ chia lãnh thổ ra ba miền riêng biệt và gòi miền Bắc là Tonkin, miền Trung là Annam, và miền Nam là Cochinchine, người Việt ở ba miền bị người Pháp xem như dân thuộ̀c ba quốc gia khác nhau, miền Nam xem như đất đai hay thuộc địa của Đế Quốc Pháp, còn hai miền Bắc và Trung gọi là lãnh thổ Bảo Hộ, nhưng người vẫn nắm quyền trực tiếp điều đất nước hai miền này qua vương triều nhà Nguyễn. Xem đó, sự ra đời hoằng dương đạo của Đức Thầy chỉ võn vẹn tám năm từ 1939 đến 1947, nên các tên cho nước và cho các miền đều chỉ phản ảnh cách dùng theo hệ thống hành chánh thời đó. Sự thay đổi hệ thống hành chánh thỉnh thoảng diễn ra ở miền Nam mà Đức Thầy gọi là Nam Kỳ Lục-Tỉnh cũng xảy ra nhiề̀u lần, nhưng đẻ̀u đó đã được ngài dành phần lớn nói đến trong Quyển I Sám Giảng. Thiết tưởng không cần đi vào chi tiết các thay đổi đó, mà điều người đọc lưu ý nhiều nhất là ngài đã đi qua hẩu hết các địa phương ở khắp nước, tuỳ theo hoàn cảnh mà ra cơ, mặc cho các trở ngài về chánh sách đàn áp của thực dân, và các phần tử phản quốc.
Người Pháp dùng chánh sách chia để trị nên họ không muốn xem người Việ́t là người Việt mà họ gọi là Annamite. Mỗi khi người miền này đi qua miền khác thì họ phải xin giấy phép đi lại không khác sang qua một nước khác. Có lẽ cũng vị bị đàn áp và theo dõi gắt gao từng cử chỉ, lời nói, bước đi của ngài, có lẽ đó cũng là nguyên nhân ngài kh̀ông dùng hai chữ Việt Nam thay vì Nam-Việt để không bị dòm ngó, làm khó dễ, cũng giống như cách mà ngài luôn xưng mình Khùng Điên vậy,
Có một số lý do chúng ta có thể đoán định hai từ này ám chỉ phần đất mà người Pháp gọi là Nam Kỳ Lục Tỉnh, hay Cochinchine. Phạm vi ngài chu du hoằng pháp, những tài liệu ngài để lại, nói về sáu tỉnh miền Nam, như trong quyển một Sám Giảng, có tựa đề Di Dạo Luc Châu.
Theo tác giã Thiện Tâm, ngài cũng hay nói đến Phương Nam, có thể đây ám chỉ nước Việt Nam. Cũng có nghĩa cõi Nam Diêm Phù Đề, tức Nam Thiện Bộ Châu, một trong 4 châu lớn ở cõi Ta bà. Đức Thầy từng cho biết:
“Cõi trung ương luân chuyển phương Nam,
Mở hội Thánh chọn người trung hiếu”.
(Diệu Pháp Quang Minh)
Thời Nhà Nguyễn gọi Nam Việt là miền Nam nước Việt Nam, thời Pháp thuộc gọi là Nam Kỳ.
Tầm vóc của Phương Nam theo những gì ngài viết trong Sám Giảng hay Thi Văn Giáo Lý sau đây có thể nói vượt ra ngoài không gian của miền Nam Việt Nam như một nơi tựu hội của Thần Tiên trong tương lai.
Phương Nam rạng ngọc chói lòa,
Lưu-ly hổ-phách mấy tòa đài cung.
Dành cho kẻ lòng trung chánh-trực,
Quân cùng Thần náo-nức vui-tươi.
Liên-hoa đua nở nụ cười,
Rước tôi lương-đống chào người chơn tu.
Thế-gian thoát chốn ngục-tù,
Thần Tiên hiệp mặt thì cù hóa long.
(Xuân Hạ Tác Cuồng Thơ)
Quốc hiệu nước gọi Nam Việt vào thời nhà Triệu (206-111 TCN) thật rất khác xa với tước hiệu được dùng trong Sám Giảng. Khi Triệu Đà thôn tính xong nước Văn Lang và hợp chung với các châu Quang Đông, Quảng Tây, gọi chung lại là Nam Việt và xưng vương. Những châu thuộc phía Nam sông Dương Từ gồm những dân tộc Việt, như Âu Việt, Mân Việt, Lạc Việt, v.v. tạo nên một vùng địa lý rộng lớn.
« Back to Glossary Index
