« Back to Glossary Index

BÁT NHÃ THOÀN: Cũng đọc là thuyền bát nhã. Bát Nhã là phiên âm của Phạn ngữ (Scr.) Prajna, một danh từ đặc biệt trong Phật pháp, bao gồm nhiều ý nghĩa, dịch gọn là Trí huệ, là thanh tịnh sáng suốt. Bát nhã lại có 3 thứ:


1.- Thật tướng bát nhã: Cái linh trí sáng mầu, thường tồn bất biến của mỗi chúng sanh đều sẵn có (trí vô sư).

2.- Quán chiếu bát nhã: Cái trí sáng quán sát thấu suốt, phân biệt các pháp, người tu hành nhờ tịnh lự, tư duy mà mở thông.


3.- Văn tự bát nhã: Sự sáng suốt, thông hiểu lý nghĩa, mầu nhiệm cao sâu trong các kinh điển đạo Phật; nhà tu nhờ học rộng nghe nhiều, sưu tầm tra cứu mà thấu đạt.

Sở dĩ gọi Bát Nhã là chiếc thuyền, là vì trí huệ có diệu năng đưa mình và độ chúng từ bờ mê sang bến giác. Chính nó là một trong sáu pháp “Ba-la-mật” của chư Bồ Tát thường hành. Đức Thầy từng bảo:


“Thuyền bát nhã ta cầm tay lái,
Quyết đưa người khỏi bến sông mê”.


(Diệu Pháp Quang Minh)

Trong Kinh Di Giáo, Đức Phật dạy:“Trí huệ (Bát nhã) là chiếc thuyền bền chắc, không một lượn sóng dục tình nào đánh đắm được, nó hay đưa người khỏi biển: sanh, lão, bịnh, tử. Là món thuốc thần diệu chữa lành các thứ bịnh thất tình lục dục.v.v…Là ngọn đuốc tột sáng, chiếu tan lớp vô minh vọng hoặc. Là lưỡi búa (kiếm) thật bén chặt đứt cội phiền não, tà kiến…”


Đức Thầy hiện nay cũng bảo:


“Kiếm huệ phi tiêu đoàn chướng nghiệp,

Phật tiền hữu nhựt vĩnh an nhiên”.


(Hiếu Nghĩa Vi Tiên)


Bởi diệu năng của trí Bát nhã như thế, nên Ngài bảo:“Phải xả thân tầm Bát Nhã thoàn”.(Kệ Dân, Q.2)

Trích Chú Giải Sám Giảng (1975)

synonym: Boat of Insight, Prajnamita, Prajna

« Back to Glossary Index