QUÂN TỬ: Người có phẩm hạnh cao khiết, tài năng vượt trội hơn kẻ tầm thường. Mẫu người quân tử được Nho giáo đề xướng như bậc “Chí nhân quân tử”. Đức Thầy có câu:
“Chí quân tử lòng nhơn vạn đại,
Dốc làm sao rõ mặt tang bồng”.
TU MI: Râu và lông mày. Nghĩa rộng là chỉ cho bậc nam nhi (đàn ông): “Tu mi nam tử”. Đức Thầy có câu:
“Hiền thần sách sử nêu ghi,
Miễu son tạc để tu mi trung thần”
(Sám Giảng, Q.3).
“Tu mi nam tử” (鬚眉男子) vốn là thuật ngữ Hán Việt để chỉ người đàn ông hoặc con trai có khí phách hơn người. “Tu” là râu, “mi” là lông mày; cụm từ này lấy đặc điểm râu mày để chỉ diện mạo, nhân cách của bậc trượng phu.
Ý nghĩa chi tiết:
Nghĩa đen: Người đàn ông có râu mày.
Nghĩa bóng/Văn chương: Chỉ những người đàn ông có chí lớn, khí phách anh hùng, gánh vác việc lớn, sống có trách nhiệm, trung hiếu.
Ngữ cảnh sử dụng: Thường gặp trong văn thơ cổ, truyện kiếm hiệp hoặc các câu nói tôn vinh vẻ đẹp nam tính, trượng phu (ví dụ: “làm cho rõ tu mi nam tử”).
Ví dụ: “Tu mi tỏ mặt trượng phu, Đem trung hiếu để trả thù non sông” (Soha Tra từ).
Cũng chỉ người thanh niên có mộng làm nẻn việc lớn nếu đất nước cần đến như trong câu thơ:
“Làm trai cho đáng nên trai,
Xuống Đông tỉnh, lên Đoài an.” (Ca Dao)
Cũng có hạng chỉ biết rong chơi trụy lạc, ăn nói hàm hồ, cống cao tự đại, nhưng khi gặp người lâm nạn thì họ trơ mắt ra nhìn, chẳng hề có chút lương tâm ra tay giúp đỡ, lại còn thỏa thích nhạo chê là khác. Là bực râu mày nam tử, với bổn phận không tròn, họ đã chẳng biết tủi thẹn, lại còn khoe khoang tự đắc. Nên Đức Thầy than vãn cho cho họ,
Hổ mình là bực tu mi,
Chưa tròn bổn-phận mà ti tôn mình.
(Quyển Ba, 361)
Còn có thể gọi là Đấng Râu Mày:
“Sống sanh ra phận râu mày,
Một đời một đạo tới ngày chung thân.”
(̣Bài Tự Thán)
« Back to Glossary Index
