NGŨ TRƯỢC: Năm điều dơ bẩn ở cõi trần, mà con người chẳng một ai tránh khỏi, gồm có: Kiếp
trược, Kiến trược, Phiền não trược, Chúng sanh trược và Mạng trược. Xưa, Đức Phật từng nói:“Ta bà
là một cõi ác lụy, choán đầy năm thứ trược. Song vì nguyện lực và lòng từ bi nên Ta thị hiện, để giáo
hóa chúng sanh được biết cõi Tịnh Độ của Đức A Di Đà ngõ hầu nguyện sanh về đó”.
Kinh Vô Lượng Thọ, Phật dạy:“Chư Bồ Tát tu mãi đến khi thành Phật không sa vào các lối ác (Địa
ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh), thần thông tự tại, thường nhớ những đời trước của mình. Trừ ra khi nào vì
bổn nguyện sanh vào cõi ngũ trược ác thế thì thị hiện như chúng sanh ở cõi ấy, tức là chẳng giữ phép
thần thông túc mệnh, cũng đồng chịu luật sanh, lão, bịnh, tử như chúng sanh.”
KIẾP TRƯỢC: Đời sống dơ bẩn không sạch. Bởi thời gian trong kiếp trụ, con người bị giảm lần tới
hai vạn tuổi trở xuống thì đời sống trở nên dơ bẩn. Mỗi thân con người đều chịu bốn cái trược: Kiến
trược, Phiền não trược, Chúng sanh trược và Mạng trược.
ĐÊ HÈN: Thấp thỏi xấu xa.
KIẾN TRƯỢC: Sự thấy biết dơ bẩn. Thời mạt thế, tà kiến của chúng sanh thạnh khởi, làm hoặc-
loạn thế gian khiến cho sự thấy phải điên đảo, như: thấy tà nhận chánh, thấy dơ nhận sạch. Có năm
cái thấy điên đảo, gọi là Ngũ Lợi Sử:
1-Thân kiến: chấp cái thân nầy có thật.
2-Biên kiến: Cái thấy chấp một bên, như chấp thân nầy còn hoài hay chấp thân nầy một khi chết
là hết.
3-Tà kiến: Cái thấy tà vạy, không nhận ra chơn lý, không tin nhân quả luân hồi.
4-Kiến thủ kiến: Chấp chỗ tà vạy và sự thua kém của mình là hơn người.
5-Giới cấm thủ kiến: Cái thấy chấp những giới cấm phi lý như cho rằng lấy tro bôi mình hay ép xác
hành khổ là được đắc đạo.
THIẾT MƯU KẾ: Bày chước nầy kế nọ.
THẮNG THỐI: Hơn thua cao thấp.
CHƯỞNG: Gieo trồng.
ĐÁP ĐỐI: Đáp qua đối lại bằng lời nói hoặc hành động, không ai chịu thua ai, lòng luôn tính toán,
sắp đặt những gì để đối trả giữa nhau.
PHIỀN NÃO TRƯỢC: Các thứ “hoặc” dơ bẩn, như: Tham, Sân, Si; nó thường làm cho thân tâm
phiền muộn não loạn. Các thứ “hoặc” dơ bẩn ấy làm cho con người ngu độn tức là “Ngũ độn sử: 1-
Tham lam 2- Sân nộ 3- Mê si 4- Mạn (tánh cống cao ngã mạn) 5- Nghi (lòng nghi ngờ đối với các thiện
pháp)”.
CHUYỂN LUÂN: Luân hồi chuyển tiếp (xem thêm phần chú thích chữ “Luân hồi” tại tr. 36 Tập 1/3).
CĂN MỜ ÁM: Căn gốc tối tăm. Bởi mỗi chúng sanh từ vô minh (mê si) mà sanh ra và càng luân
chuyển trong các loài sự mê tối ấy càng dày thêm.
Đức Thầy có câu:
“Nguyên tăm tối từ hồi vô thỉ,
Màn vô minh che mờ căn trí”.
(Khuyến Thiện, Q.5)
CHÚNG SANH TRƯỢC: Chúng sanh sống trong thời kiếp trược, do quả báo của phiền não và kiến
trược mà thành ra sống cuộc đời dơ bẩn, phước ít, khổ nhiều.
MẠNG TRƯỢC: Mạng sống dơ bẩn, ngắn ngủi. Cũng do kết quả của phiền não trược và kiến trược
mà tuổi thọ con người sống thời kiếp trược một ngày một giảm bớt đi và không lúc nào được trong
sạch an vui

