Sắc đẹp. Một trong tứ đổ tường, cũng là một trong năm điều ham muốn (ngũ dục).(Ngũ dục là muốn sắc đẹp, muốn tài của, muốn danh tiếng, muốn ăn uống, muốn ngủ nghỉ.)
Biết bao tấm gương nhơ nhớp vì đắm say sắc lịch. Chính nó đã gây nên những cuộc đổ nước nghiêng thành, đảo lộn luân thường đạo lý lắm người bị nó nhận chìm trong hố sâu tội lỗi. Cổ nhân từng bảo:“Sắc bất ba đào dị nịch nhân”(Sắc đẹp tuy không phải sóng gió nhưng dễ nhận chìm được người). Trong Tỉnh Thế Ngộ Chơn cũng dạy:
“Sắc tác hậu tự tiền thế đại, Tán tinh hao khí, khổ linh hồn”.
(Nữ sắc tuy dùng nối truyền đời trước, nhưng cũng bởi sắc làm cho con người tán tinh, hao khí và linh hồn bị sa đọa).
Chú Giải Sám Giảng (1975)
Trong tiếng Việt, “sắc lịch”là một thuật ngữ xuất phát từ giáo lý Phật giáo, dùng để chỉ sự say đắm, vướng mắc của con người đối với các hiện tượng, hình hài, vật chất hấp dẫn bên ngoài (gọi là sắc trần).
Cụ thể, thuật ngữ này thường được hiểu và áp dụng qua các khía cạnh sau:
- Trong ngữ cảnh đạo đức và tu tập: Nó chỉ sự buông thả bản thân, chìm đắm trong các ham muốn vật chất như sắc đẹp, tiền tài, của cải, dẫn đến việc hao tổn trí tuệ và suy đồi đạo đức.
- Ý nghĩa cấu thành: Từ “sắc” (色) chỉ hình tướng, vật chất có thể nhìn thấy được bằng mắt; từ “lịch” mang ý nghĩa trải qua, tiếp xúc hoặc nhiễm phải.
- Ngữ cảnh sử dụng: Cụm từ này thường xuất hiện trong các bài giảng, giáo lý khuyên răn con người tránh xa cám dỗ, giữ tâm thanh tịnh trước những vẻ đẹp vật chất phù phiếm của cuộc đời.
- Tự điển – sắc – Phatgiao.orgÝ nghĩa của từ sắc theo Tự điển Phật học như sau: sắc có nghĩa là: (色) Phạn, Pàli: Rùpa. Nói theo nghĩa rộng, Sắc là từ gọi chung …
phatgiao.org.vn
- sắc không – Nomfoundation.orgsắc và không là hai trạng thái của các vật nơi cõi trần: sắc là có hình tướng hiện ra thấy được; không là không hình tướng, không …
Nomfoundation.org
- Sắc phong – Wikipedia tiếng ViệtSắc phong. Ngôn ngữ; Theo dõi · Sửa đổi. Sách phong (chữ Hán: 册封),

