« Back to Glossary Index
Categories: Phật Đạo

Tam thừa (sa. triyānaHán tự: 三乘) theo quan niệm Phật giáo Đại thừa là ba con đường tu hành chính giúp hành giả đạt đến sự giải thoát hay chứng được Niết-bàn ở các cấp độ khác nhau. Ba phương pháp tu đó là: Thanh Văn thừa (sa. śrāvakayāna), Duyên Giác thừa (sa. pratyekabuddhayāna) và Bồ-tát thừa (sa. bodhisattvayāna). Theo kinh Diệu Pháp Liên Hoa, hành trình đến sự giải thoát chỉ có duy nhất một con đường là Phật thừa (hay Nhất thừa, sa. Ekayāna), tuy nhiên do căn cơ chúng sinh khác nhau mà từ một Phật thừa phân biệt giảng nói thành ba thừa (Phẩm 2. Phương Tiện) để cho mọi chúng hữu tình đều có thể giác ngộ. Open Wikipedia

Sở dĩ Đức Phật phân làm Tam thừa là vì sau khi Phật thành Đạo, Ngài thuyết Kinh Hoa Nghiêm trọn 21 ngày mà các hàng Thinh Văn không lãnh hội được. Phật mới quán xét căn cơ của các giới chúng sanh chẳng đồng nhau, nên dùng phương tiện thuyết ra Tam thừa, gồm có:

1/-Đại Thừa (Đại Thặng): Cũng gọi là Bồ Tát thừa để độ bậc đại căn đại trí đến quả Diệu Giác và hóa độ chúng sanh vô số mà không biết mỏi. Ví như xe trâu (ngưu xa) có sức mạnh chuyên chở được nhiều người

2/-Trung Thừa (Trung Thặng): Cũng gọi là Duyên Giác thừa để độ bực trung căn trung trí đến quả đẳng giác, nhưng phần giác tha không được rộng lớn. Ví như xe nai (lộc xa), có thể chở được một số ít người.

3/-Hạ Thừa (hạ Thặng): Cũng gọi là Thinh Văn Thừa để độ bực hạ căn hạ trí đến quả Thánh Đạo, chỉ tự độ chớ chưa được phần độ tha. Ví như xe dê (dương xa) có sức chở được một người.

Theo thời nay ta có thể ví ba xe ấy, như: Xe lửa, xe hơi và xe đạp. Trong ba thừa kể trên, tuy có
cao thấp khác nhau, nhưng thừa nào cũng đưa hành giả ra khỏi Tam giới (giải thoát sanh tử). Các
hành giả cũng lần lượt tiến lên Tối thượng nhứt thừa (Phật thừa) như nhau.

Chú Giải Sám Giảng (TT: 1975)

« Back to Glossary Index