Cũng gọi là Tam Thặng (Phạn ngữ: Trijana) có nghĩa là 3 cổ xe, tức là ba khoa giáo lý để độ ba hạng người tu Phật.
Sở dĩ Đức Phật phân làm Tam thừa là vì sau khi Phật thành Đạo, Ngài thuyết Kinh Hoa Nghiêm trọn 21 ngày mà các hàng Thinh Văn không lãnh hội được. Phật mới quán xét căn cơ của các giới chúng sanh chẳng đồng nhau, nên dùng phương tiện thuyết ra Tam thừa, gồm có:
1/-Đại Thừa (Đại Thặng): Cũng gọi là Bồ Tát thừa để độ bậc đại căn đại trí đến quả Diệu Giác và hóa độ chúng sanh vô số mà không biết mỏi. Ví như xe trâu (ngưu xa) có sức mạnh chuyên chở được nhiều người.
2/-Trung Thừa (Trung Thặng): Cũng gọi là Duyên Giác thừa để độ bực trung căn trung trí đến quả đẳng giác, nhưng phần giác tha không được rộng lớn. Ví như xe nai (lộc xa), có thể chở được một số ít người.
3/-Hạ Thừa (hạ Thặng): Cũng gọi là Thinh Văn Thừa để độ bực hạ căn hạ trí đến quả Thánh Đạo, chỉ tự độ chớ chưa được phần độ tha. Ví như xe dê (dương xa) có sức chở được một người.
Theo thời nay ta có thể ví ba xe ấy, như: Xe lửa, xe hơi và xe đạp. Trong ba thừa kể trên, tuy có cao thấp khác nhau, nhưng thừa nào cũng đưa hành giả ra khỏi Tam giới (giải thoát sanh tử). Các hành giả cũng lần lượt tiến lên Tối thượng nhứt thừa (Phật thừa) như nhau.
Chú Giải Sám Giảng (1975)
« Back to Glossary Index
