- Holy Person
Gods include 3 levels: 1. Buddha God or Immortal God, refers to people who are close to achieving Buddhahood. 2. The Holy Spirit is a loyal patriot who is realized after death. 3. Demon Gods are gods that still eat food offerings to glass, like Asura gods (evil gods). Tien, Sanskrit: Rishi. Also called Immortals, that is, people who practice in the mountains. No longer busy with worldly affairs, relaxed, outside the world, but there are still some subtle afflictions that are not fully connected, which can maintain a life of thousands of years. As for the class of fairies that people translate as devas (Sanskrit: Deva), they are people in the world who have a lot of merit and virtue, and when they are reincarnated, they go to the heavens of desire, form or formlessness. These fairies all have beautiful, bright bodies.
Commentary on OracularTeachings (1975)
- Thần-Tiên
Thần gồm có 3 bực: 1. Phật Thần hay Tiên Thần, chỉ hạng người tu gần chứng quả Phật. 2. Thánh Thần là những người trung quân ái quốc, sau khi lâm chung được chứng đắc. 3. Quỉ Thần là hạng thần còn ăn đồ cúng kiếng, như thần A Tu La (tà thần). Tiên, Phạn ngữ: Rishi. Cũng gọi là Tiên nhơn, tức là những người tu hành ở non núi. Không còn bận việc đời, thảnh thơi, ngoài cảnh tục, nhưng còn một vài vi tế phiền não ràng buộc chưa tròn vẹn lục thông, có thể duy trì mạng sống ngàn muôn tuổi. Còn hạng tiên mà người ta dịch ra ở chữ chư thiên (Phạn: Deva) là những người ở thế gian có nhiều phước đức, khi thác được hóa sanh, lên các cõi trời dục giới, sắc giới hoặc vô sắc giới. Những hạng tiên nầy đều được thân tướng đẹp đẽ sáng láng.
Chú Giải Sám Giảng 1975
- sấu nọ hóa long
Sấu trở thành rồng. Ý chỉ cho công việc đến lúc thành công (việc tu hành cũng thế). Đức Thầy có câu:“Thần Tiên hiệp mặt thì cù hóa long”(Xuân Hạ Tác Cuồng Thơ).
T - cloud tower
Due to the word radio, the platform is high up to the clouds so you can see it far away. Here the Master refers to the throne where the King of Wisdom resides, He teaches (Oracle, Vol.3):
Attention! Don’t be too ignorant,
By cloud towers the loyal and righteous will stand.
- đài mây
Do chữ vân đài, đài cao đến tận mây để trông thấy được xa. Ở đây Đức Thầy ám chỉ đến đài của đấng Minh Vương ngự, Ngài dạy (Sấm Giảng, Q.3):
“Bớ dân chớ có say mê,
Trung lương chánh trực dựa kề đài mây”.Ngọc Thanh kể lại lúc ngài theo Đức Thầy Bữu Sơn tu hành và cũng được sống ở nơi gần như Tiên Cảnh mà gọi là "đài mây", do đó ngài dùng hai từ này rất thường trong kệ giảng thay thế các từ như non bồng nước nhược.
Kể từ hầu hạ bên Thầy,
Vào ra chầu-chực đài mây cũng gần.
Như vậy đài mây cũng có thể ở nơi trần thế nhưng chỉ có người nào công tu mới thể tham dự cảnh Đức Minh Hoàng ra đời dạy dỗ người đời, nhưng ngài chỉ ngự trị khi chưa bình định được thế gian.
Minh-Hoàng chưa ngự đài mây,
Gẫm trong thế-sự còn đầy gian-truân.Đức Thầy có câu (trong bài Vén Màn Bí Mật):
“Non Lịch đài mây rạng tu mi”. - stay over in the Chin mountain
Only for the Seven Mountain (Bay Nui) region, which is located near the Cambodian-Vietnamese border, the Cambodian people still live around here in large numbers, so it is called Mount Chin (Chin: Chinese pronunciation, Tần in Vietnamese). According to the Buu Son Ky Huong teachings, the noun Qin country refers to the Cambodian country, as in Mr. Ba Thoi's "Kim Co Ky Quan" there is a sentence:
“How many people have ever eaten thornless snails?
Not eating enough rice is a disaster for the Qin country."
And in Ke Dan, Volume 2, the Master also said:
“I stay in Cambodia out of love the King of Qin ,
Returning to the South to make reforms,
Let my believers know the truth."
Here refers to Bokor mountain, where Mr. Cu Da (Ngoc Thanh) attained enlightenment. Because, according to the theory, Qin refers to the Cambodian country, and Ta Lon (Bokor) mountain is located on the territory of Cambodia (now called Kampuchea), so it is called Qin mountain.
The Master pitied the people in the world who were too passionate about materialistic civilization, causing evil and cruel karma, and having to reap the consequences of suffering later. He recalled the time he followed the his Master to study Dharma at the top of Bokor mountain. Although this mountain is currently located in Cambodia, in the future the situation will change and become part of Vietnam. Therefore, sometimes the Chin mountain refers to the Seven Mountains within the territory of Vietnam where there also are many disciples of the Buu Son Ky Huong sect, precursor to Hoa Hao Buddhism. - dựa non Tần
Chỉ cho miền Bảy Núi, vùng nầy nằm giáp biên giới Miên-Việt, dân tộc Miên còn ở chung quanh đây khá đông, nên gọi là non Tần. Bởi theo giáo hệ Bửu Sơn Kỳ Hương thì danh từ nước Tần là ám chỉ cho nước Miên.
Và trong Kệ Dân, Q.2 Đức Giáo Chủ bảo:
“Ở Cao Miên vì mến Tần Hoàng,
Trở về Nam đặng có sửa sang,
Cho thiện tín được rành chơn lý”.Ở đây chỉ núi Tà Lơn, nơi ông Cử Đa (Ngọc Thanh) tu đắc Đạo. Vì theo cơ giảng thì Tần ám chỉ cho nước Miên, mà núi Tà Lơn nằm trên địa phận nước Miên, nên gọi là non Tần.
Đức Thầy thảm thương cho người đời quá đam mê văn minh vật chất, gây nghiệp tà gian hung ác, mà phải gặt lấy quả đau khổ sau nầy. Ngài hồi tưởng lúc theo Thầy tu học Đạo pháp tại đỉnh núi Tà Lơn. Núi nầy tuy hiện giờ nằm trên địa phận nước Miên, nhưng sau nầy thời thế sẽ xoay chuyển trở thành của nước Việt Nam.
The master sometimes refers the Chin Mountains to the Seven Mountains which are located at the Vietnam-Cambodian border, where the Buu Son Ky Huong, precursor to the Hoa Hao Buddhism, had a lot of influence on the region with a lot of well-known disciples and temples in the An Giang province, in particular,. and the South-Western region of Vietnam, in general.
- filial and loyal duties
Filial piety is filial piety to one's parents. Among the Four Graces, filial piety is the highest, but to fulfill filial piety, people must know how to repay their parents, who are grateful for giving us life and nurturing us, while we were still children and needed the care and protection of our parents. But the word filial piety has a deeper meaning than just being grateful to your parents, but also being grateful to your grandparents, the people who gave birth to your parents.
Loyalty means being loyal to the king, the country and the land. Thanks to the protection of the nation and the fatherland, we can have a secure life, our territory is strong and we can be warm. If we want to repay the king and the land, we must know the religion of being a citizen of a country, contribute to the work of protecting the land when the country is in danger, must worship Bright King who represents the soul of the country to preserve the traditions of a sovereign country, with the right to choose its leader. Today, the monarchy only exists in very few countries, most of which have changed to a monarchy, so the concept of patriotic centralism here has changed a lot. Neutrality in today's sense is first of all not to do anything that does not adversely affect the reputation or interests of the country, such as supporting the enemy, or disrupting the national economy, or destroying security and order without a legitimate reason, such as demanding the basic rights of the people or human rights.
Throughout the Master's sermons, He unceasingly reminded his disciples to fulfill their duty of the four debts of gratitude, of which the two greatest ones are Filial piety or Central Filial piety. During the time of its birth, the country of Vietnam was being colonized by foreign invaders, so the two words "Chinese Army Patriotic" were often applied to people who had to worry about their economic life. Paying the country's debt by joining the insurgent army was also a...
- Hiếu-trung
Hiếu là hiếu thảo dối với cha mẹ, trong Bốn Điều Ân, hiếu là cao nhất, nhưng muốn làm tròn đạo hiếu thì con người phải biết cách đền ơn cha mẹ, người có công ơn cho ta sự sống và nuôi dưỡng ta nên người, trong khi ta còn thơ bé, cần sự đùm bọc của cha mẹ, bảo vệ. Nhưng chữ hiếu cỏn có nghĩa xâu xa hơn là chỉ biết trả ơn cho cha mẹ, mà còn phải biết mang ơn đối với ông bà, người đã sanh ra cha mẹ.
Còn trung là trung thành với quốc vương, thủy thổ, nhờ có sự che chở của quốc gia, tổ quốc, ta mới có cuộc sống an ninh, bờ cõi vững mạnh thì mình ta mới ấm. Muốn trả ơn quốc vương, thủy thổ thì ta phải biết đạo là dân một nước, đóng góp vào công việc bảo vệ bờ cõi lúc đất nước lâm nguy, phải thờ phượng Minh Vương, Thánh Chúa, người đại diện cho linh hồn đất nước để gìn giữ truyền thống của một quốc gia có chủ quyền, có quyền lựa chọn người lãnh đạo. Ngày nay, chế độ quân chủ chỉ còn tồn tại ở rất ít quốc gia, mà hầu hết chuyển qua chế độ dàn chủ, nên ý niệm về trung quân ái quốc ở đây có nhiều thay đổi. Trung trong ý nghĩa thời đại ngày nay là trước hết khõng làm điều gì không ảnh hưởng xấu đến thanh danh hay quyền lợi của quốc gia, như tiếp tay cho giặc thù, hay làm lũng đoạn nền kinh tế quốc dân, làm mất an ninh trật tự mà không có lý do chánh đáng như đòi hỏi những quyền căn bản của người dân hay nhân quyền.
Xuyên suốt trong căc bài giảng của Đức Thầy, ngải khõng nhừng nhắc nhở môn nhân đệ tử ngài làm tròn bổn phận tứ ân, mà hai ân lớn nhất là Hiếu Trung hay Trung Hiếu làm đầu. Trong thời gian ngày ra đời, nước Việt Nam đang bị ngoại xâm đô hộ nên hai chữ Trung Quân Ái Quốc thường áp dụng cho người dân đang vừa phải lo cuộc sống kinh tế, trả nợ đất nước bằng cách gia nhập nghĩa quân cũng là vấn đề phải đặt ra, nhưng Đức Thầy cưng nói tùy tài tùy sức mà tranh đấu, tùy hoàn cảnh đối ứng chứ khõng nên nóng nãy làm thiệt thân vô ích.
“Lo bổn phận thảo ngay trọn vẹn,
Chừng lập đời khỏi thẹn tấm thân”.
(Vọng Bắc Hòa Nam)Với hai cữ hiếu...
- liễu mai
Chữ liễu mai ở đây có nghĩa là thấu đạt cơ huyền của Đạo pháp, hoặc chỉ cho sự tu hành khi được kết quả.
- enlightened
The word willow mai here means to comprehend the mystery of the Dharma, or only thanks to persistent practice does the practitioner eventually reach full enlightenment.
- bosom friends
The like-minded people. To know someone's voice is to hear someone's voice and know it. The intention is for deep friendship.
After attaining the status of Immortal Chief, He returned from the Immortal Realm, settled in Lan Thien for a while, then He traveled everywhere to find like-minded people... Now, out of compassion for the people, He returned to the earthly world to start the Great Way. He recalled the time when he was in the mountains, enjoying the peaceful and solitude, his heart no longer entangled with anyone.
Now I see people always indulging in sensual pleasures, causing deluded karma, not caring about fulfilling their duties as good people. He also said: when His Mission is completed, all people will understand the Compassion of the Buddhas, Saints, and Immortals. p and understanding each other. Due to the classic stories Ba Nha and Tu Ky.
- tri-âm
Sau khi được chứng quả Tiên Trưởng, Ngài từ cõi Tiên trở về, an trú tại Lan Thiên một thời gian, rồi Ngài ngao du các nơi để tìm kẻ đồng tâm hạp chí…Nay vì lòng thương xót chúng dân, nên Ngài trở lại cảnh trần khai nguồn Đại Đạo.
Ngài hồi tưởng lúc còn ở non tiên, hưởng cảnh thanh nhàn tịch mịch, lòng chẳng còn vướng bận trần ai. Nay nhìn thấy lê dân mãi đắm say dục lạc, gây nghiệp trần mê, chẳng lo gìn tròn bổn phận của người hướng thiện. Ngài còn cho biết: đến lúc Sứ Mạng của Ngài hoàn thành thì khắp bá tánh, mới rõ được lòng Từ bi của chư Phật Thánh Tiên.Tri âm là nghe tiếng người mà biết được ý chí lời lẽ. Ý chỉ cho tình bạn thâm giao, hiểu biết lòng nhau. Do điển tích Bá Nha và Tử Kỳ.
- submerged
Immersed, rolling forever in the six paths of samsara. The Master once said:
"Once submerged, one suffers like in a vicious circle without an exit". (Poem: Autumn at its End).
The Master separates the two realms of Heaven and Hell. If anyone knows enlightenment, practices love for others, loves animals, gives alms to living beings, avoids the karma of killing, when they die, they will be transported to the Heaven to enjoy its beatitude. Anyone who is always superstitious, kills living beings, will inevitably fall into the hell realm and suffer extremely miserable punishments:
“Transcending to Paradise, one enjoys leisure,
Submerging to Hell, one must suffer from tribulation."
- trầm-luân
Chìm đắm, lăn lộn mãi trong sáu nẻo luân hồi. Đức Thầy từng nói:“Trầm luân oan nghiệt càng gây thêm hoài”.(Thu Đã Cuối).
"Thiên-đường siêu-thoát thời thong-thả,
Địa-ngục trầm-luân ắt đảo-điên.
Nên chọn một nơi thanh-tịnh ấy,Rứt trần bất nhiễm mới là yên”.
Đức Thầy phân tách hai cảnh giới Thiên đường và Địa ngục, nếu ai biết giác ngộ tu hành thương người mến vật, bố thí phóng sanh, tránh nghiệp sát hại, khi chết được siêu thoát lên thiên đường hưởng sự tiêu diêu khoái lạc. Còn kẻ nào mãi mê tín, sát sanh hại vật cúng tế người quá vãng, tất bị nghiệp báo sa đọa vào cảnh giới địa ngục chịu hành phạt vô cùng khổ sở:
“Thiên đường siêu thoát thời thong thả,
Địa ngục trầm luân ắt đảo điên”. - Muc Lien
Maudgalyayana was one of the "Ten Great Disciples" of Buddha Shakyamuni. He is the first supernatural being. When he attained Arahantship, he used his heavenly eyes to see his mother, Mrs. Thanh De, falling into Avici prison, suffering the terrible punishment of hunger and suffering. He used his supernatural powers to bring a bowl of rice to his mother to use. But as soon as she picked it up, the rice bowl suddenly caught fire and she couldn't eat it, so she regretted her sin. Maudgalyayana returned to ask Buddha for help on how to save his mother. Seeing Maud Lien's filial piety, the Buddha was moved with compassion and taught him to perform the Vu Lan Bon ceremony, so that thanks to the dedication of the merits of the Holy Monks combined with her remorse and the Buddha's power to protect him, Venerable Maud Lien saved his mother from Avici prison.
Oracle Commentary 1975
Maudgalyāyana (Pali: Moggallāna), also known as Mahāmaudgalyāyana or by his birth name Kolita, was one of the Buddha's closest disciples. Described as a contemporary of disciples such as Subhuti, Śāriputra (Pali: Sāriputta), and Mahākāśyapa (Pali: Mahākassapa), he is considered the second of the Buddha's two foremost male disciples, together with Śāriputra. Traditional accounts relate that Maudgalyāyana and Śāriputra become spiritual wanderers in their youth. After having searched for spiritual truth for a while, they come into contact with the Buddhist teaching through verses that have become widely known in the Buddhist world. Eventually they meet the Buddha himself and ordain as monks under him. Maudgalyāyana attains enlightenment shortly after that. Wikipedia
- Mục-Liên
Mục Kiền Liên, vốn là một trong “Thập Đại Đệ Tử” của Đức Phật Thích Ca. Ngài là bậc thần thông đệ nhứt. Khi chứng quả A La Hán, Ngài dùng thiên nhãn nhìn thấy mẹ là bà Thanh Đề đang bị đọa tại ngục a-tỳ, chịu sự hình phạt đói khổ thảm thiết. Ngài dùng thần thông đem bát cơm đến dâng cho mẹ dùng. Nhưng khi vừa bưng lên, bỗng bát cơm hóa ra lửa bốc cháy, bà ăn không được nên bà rất hối hận tội lỗi của mình. Mục Kiền Liên trở về cầu Phật giúp cho phương cách cứu mẹ.
Thấy lòng hiếu thảo của Mục Liên, Phật động từ tâm, dạy ông thiết lễ Vu Lan Bồn, để nhờ sự hồi hướng công đức của các Thánh Tăng cộng với sự hối hận của bà và oai lực của Đức Phật gia hộ, nên Ngài Mục Liên cứu mẹ ra khỏi ngục A Tỳ.Chú Giải Sám Giảng 1975
Mục-kiền-liên (Maudgalyāyana; tiếng Pali: Moggallāna, tiếng Tạng tiêu chuẩn: མོའུ་འགལ་གྱི་བུ་, chữ Hán: 目犍連; tên Latinh hóa: Maudgalyayana, Mahamaudgalyayana hay Mahāmoggallāna), còn gọi là Đại Mục-kiền-liên hoặc tên khai sinh Kolita, là một trong những đệ tử thân cận nhất của Phật. Ông được mô tả là đồng thời với các đệ tử như Tu-bồ-đề, Xá-lợi-phất (tiếng Pali: Sāriputta) và Đại Ca-diếp (tiếng Pali: Mahākassapa); ông được xem là vị thứ hai trong hai đệ tử nam hàng đầu của Phật, cùng với Xá-lợi-phất. Theo truyền thống, Mục-kiền-liên và Xá-lợi-phất trở thành những du sĩ tâm linh từ thuở trẻ. Sau một thời gian tìm kiếm chân lý tâm linh, họ tiếp xúc với giáo pháp Phật qua những bài kệ đã trở nên nổi tiếng rộng rãi trong thế giới Phật giáo. Cuối cùng họ gặp Phật và thọ đại giới làm Tỳ kheo dưới sự dẫn dắt của Phật. Không lâu sau đó, Mục-kiền-liên chứng giác ngộ A-la-hán và trở nên nổi tiếng là bậc "Thần thông đệ nhất" (tiếng Pali: Manda Galỳayana) trong hàng Thanh văn đệ tử của Phật.
- Ru
Ruism is a Confucian doctrine, phonetized after the Chinese word 儒 (如)·
- sạ dươn
Cu4 phát âm là sạ dươn, Sạ là chữ Sự đọc trại (tiếng địa phương). Vậy Sạ duyên tức là Sự duyên. Có nghĩa duyên do sự việc.
"Về đây hội hiệp sạ duyên tớ Thầy.
Ở rừng bạn với cáo-cầy,Bây giờ xuống thế cáo-cầy lìa xa.
Thiên-cơ biến đổi can qua." - Blue Bridge
Due to the word "Lam Kieu", the bridge spans the Blue River, in Lam Dien district, Shaanxi province (China).
According to the legend, Bui Hang met Van Anh and later became a Fairy: During the Tang Dynasty (China), there was Bui Hang. On the way to take a boat to Tuong Han, he suddenly happened to be on the same boat with Van Kieu, a beauty of national standard. Hang asked Van Kieu's maid to deliver the letter for him, so he was able to talk to Van Kieu and she gave him a poem.
After Bui Hang arrived at the Blue Bridge, as instructed in the poem, Hang stopped at the inn on the roadside where an old woman lives to quench his thirst. The old woman's daughter brought out the water. Hang saw that she was very beautiful and asked her name. It turned out to be Van Anh, Van Kieu's younger sister. Hang asked the old woman to let her marry him. The old lady told Hang to find a jade mortar and pestle and bring it back, and she would marry Van Anh, without needing any gold or silver.
Thanks to his enthusiasm, Hang received help from the gods and married Van Anh. The old lady immediately showed Hang how to diligently practice and told Hang to use that mortar and pestle to disperse the elixir for three whole months. When the medicine was finished, all three people drank it together, and they all became Immortals.
Because of the above story, ancient scriptures and writers often use the words Cau Lam, or Lam Kieu, to refer to the path leading to the Immortal realm.
There is an ancient poem that says:
"If you swear for a hundred years, you will not have a mortal heart.
The river will bring you, and the Lam bridge will bring you."
The Master also said: “Lam Kieu has a road, but it is deserted,
The prison gate has no door, so let's go together."
(Northern Journey)
- flirtings
Butterflies and bees (in English, “butterflies and bees”) is an analogy referring to people who frequently play around, flirt, seduce, or behave improperly with others, especially in romantic relationships. It is a metaphorical noun commonly used in classical literature and everyday Vietnamese language to refer to those who are fickle, unfaithful, or frequently change their affections.
- Those who have merits
Having a part, having a part of luck.
Having a predestined relationship (predestined relationship), as opposed to having no predestined relationship. Meet each other and agree with each other is predestined. The proverb often says: "If there is fate, there is a chance of meeting each other, but if there is no fate, there is no opposite." "Let's meet each other" (If you have fate a thousand miles away, you will be close, if you don't have fate, no matter how many times you meet, you will still be far away). Regarding religion Those who have a predestined relationship with the Buddha's teachings, when they meet the Buddha or His teachings, immediately believe and practice good deeds. If you have no predestined relationship, even if the Buddha is standing in front of you or next to you, you will not believe or listen to him. Khe Kinh already said: "Medicine cannot cure a fatal disease, but Buddha only saves those who have good relationship" The Master often said:
“If by a good relationship, you understands Crazy,
It's just that in a previous life, it has a shared destiny."
(Visit My Hoi Dong Village)
Khe Kinh Sutra (Sanskrit: सूत्र, romanized: sūtra, lit. 'formula') in Indian literary traditions refers to an aphorism or a collection of aphorisms in the form of a manual or, more broadly, a condensed manual or text. Sutras are a genre of ancient and medieval Indian texts found in Hinduism, Buddhism, and Jainism.
- Hữu phần
HỮU PHẦN: Có phần, được phần may mắn.
HỮU DUYÊN: Có căn duyên (tiền duyên), trái với vô duyên. Gặp gỡ nhau mà hợp ý với nhau gọi
là có tiền duyên. Tục ngữ thường nói:“Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất
tương phùng”(Có duyên ngàn dặm cũng gần, Không duyên dầu gặp mấy lần cũng xa). Về việc Đạo thì
những ai có căn duyên với Phật pháp, khi gặp Phật hoặc giáo lý của Ngài liền kính tin hành thiện.
Bằng vô duyên thì dầu Phật đứng trước mặt hay ở sát bên, cũng không hề tin nghe. Khế Kinh đã
bảo:“Thuốc không trị được bịnh tới số, còn Phật chỉ độ những ai có duyên lành”(Dược y bất tử bịnh,
Phật hóa hữu duyên nhơn). Đức Thầy thường cho biết:
“Duyên lành rõ được Khùng Điên,
Chẳng qua kiếp trước thiện duyên hữu phần”.
(Viếng Làng Mỹ Hội Đông)Kinh (zh. 經, sa. sūtra, pi. sutta), nguyên văn là Khế kinh (chữ Hán: 契經), còn được phiên âm là Tu-đa-la (修多羅) hay Tố-đát-lãm (素怛纜), là các bài giảng trong Phật giáo được cho là do chính đức Phật truyền dạy. Các bài giảng này được xếp vào phần Kinh tạng (sa. sūtrapiṭaka) trong bộ Tam tạng (sa. tripiṭaka). Wikipedia
- Supreme
By the Britannica definition, the Supreme is a designation for god or deity that possess much more power than the humans, therefore, the term can include the Jade Emperor and Buddha, to describe any Being superior who holds authority superior to all the others.
- bướm ong
Ong bướm (trong tiếng Anh là “butterflies and bees”) là một cụm từ chỉ những người thường xuyên chơi bời, ve vãn, tán tỉnh hoặc có hành vi không đứng đắn với người khác, đặc biệt là trong mối quan hệ tình cảm. Đây là một danh từ mang tính ẩn dụ, được sử dụng phổ biến trong văn học cổ điển và ngôn ngữ hàng ngày của người Việt để chỉ những kẻ trăng hoa, không chung thủy hoặc hay thay đổi tình cảm.
- kẻ Sở người Tề
Sở là tên một nước ở Trung Hoa vào thời Xuân Thu, tại vùng Trung Hồ Bắc-Hồ Nam bây giờ. Tề cũng là một nước trước kia do Châu Võ Vương cắt phong cho Thái Công Lữ Vọng, sau đến thời Chiến Quốc Xuân Thu chia làm 7 nước: Yên, Hàn, Triệu, Ngụy, Tề, Sở, Tần. Hai nước Sở và Tề, tuy thuộc địa phận Trung Hoa nhưng cách nhau rất xa. Ở đây Đức Thầy muốn nói: Những người hiền lương tuy hiện giờ còn xa cách, nhưng sau nầy cũng được hội hiệp:“Tuy ngày nay xa cách Sở Tề, Sau Thầy tớ gặp nhau Phật cảnh”(Sa Đéc).
- Polaris Star
At that time, the reason why Tử Vi appeared in the sky and shone brightly was to signal that the dark times were about to end, and the Sacred Monarch would emerge to establish a new life. During this period of change, humanity had to endure sorrow and mourning together, which made the Master’s heart infinitely compassionate. Meaning When Positioned in the Houses of Power and Wealth: When the star Tử Vi resides in any house of the horoscope, it usually brings goodness, wealth, and the ability to dispel misfortune to the possessor. It has the potential to prolong life and mitigate some of the malignancy of hostile stars. Personality: People with the Tử Vi star often have a humble, kind, intelligent character and possess leadership abilities. However, they may also encounter weaknesses such as arrogance and lack of decisiveness.
Wikipedia: Polaris is a yellow supergiant star in the northern circumpolar constellation of Ursa Minor. It is designated α Ursae Minoris (Latinized to Alpha Ursae Minoris) and is commonly called the North Star. With an apparent magnitude that fluctuates around 1.98,[3] it is the brightest star in the constellation and is readily visible to the naked eye at night. The position of the star lies less than 1° away from the north celestial pole, making it the current northern pole star. The stable position of the star in the Northern Sky makes it useful for navigation.
Although appearing to the naked eye as a single point of light, Polaris is a triple star system, composed of the primary, a yellow supergiant designated Polaris Aa, in orbit with a smaller companion, Polaris Ab; the pair is almost certainly in a wider orbit with Polaris B. The outer companion B was discovered in August 1779 by William Herschel, with the inner Aa/Ab pair only confirmed in the early 20th century.
As the closest Cepheid variable, Polaris Aa's distance is a foundational part of the cosmic distance ladder. The revised Hipparcos stellar parallax gives a...
- Tử-Vi
Bấy giờ vì sao Tử Vi đã xuất hiện trên nền Trời và chiếu sáng để báo tin thời đen tối sắp hết, vị Thánh Quân sẽ trổ mặt, kiến lập cuộc đời mới. Giữa thời gian thay đổi ấy, nhơn loại phải chung chịu cảnh đau thương tang tóc, nên lòng Đức Thầy thương xót khôn cùng.
Ý Nghĩa Khi Tọa Thủ Tại Các Cung
- Quyền Lực và Tài Lộc: Khi sao Tử Vi nằm ở bất kỳ cung nào trong lá số, nó thường mang lại sự tốt lành, tài lộc và khả năng giải ách cho người sở hữu. Nó có khả năng kéo dài tuổi thọ và hóa giải một phần hung tính của các sát tinh.
- Tính Cách: Người có sao Tử Vi thường có tính cách khiêm nhường, lương thiện, thông minh và có năng lực lãnh đạo. Tuy nhiên, họ cũng có thể gặp phải những nhược điểm như kiêu ngạo và thiếu chủ kiến.
- Tác Động Đến Vận Mệnh
- Hóa Giải Hung Ách: Sao Tử Vi có khả năng hóa giải những điều xấu, mang lại sức khỏe và sự trường thọ cho người sở hữu. Nó cũng có thể giúp điều chỉnh và làm giảm bớt sự hung hiểm của các sao khác trong lá
- số.
- Vị Trí Đắc Địa: Khi sao Tử Vi nhập vào cung Quan Lộc, nó thể hiện vị trí đắc địa, mang lại nhiều cơ hội và thành công trong sự nghiệp.
- Kết Luận
Sao Tử Vi không chỉ là một yếu tố quan trọng trong Tử Vi Đẩu Số mà còn là biểu tượng của quyền lực, tài lộc và phúc đức. Hiểu rõ về sao Tử Vi và vị trí của nó trong lá số có thể giúp người sở hữu nhận thức rõ hơn về vận mệnh và tính cách của mình.
- Trang Trinh
The Confucian scholar of the Nguyễn family, named Bỉnh Khiêm, with the courtesy name Hạnh Phủ and the pseudonym Bạch Vân Cư Sĩ, was later called Tuyết Giang phu tử by posterity. He was born in the year of Tân Hợi (1491), during the reign of King Lê Thánh Tôn, in the 22nd year of the Hồng Đức era, in Cổ Am village (Trung An), Vĩnh Lạc district (now Vĩnh Hảo), Hải Dương province, in the northern part of Vietnam.
His father was Văn Đình, who was later posthumously conferred the title Thái Bảo Nghiêm Quận Công by the Mạc dynasty. His mother was the daughter of the Minister of the Ministry of Household, Nhữ Văn Lâu; she was later posthumously titled as Từ Thục Phu nhân.
From childhood, he was extraordinarily intelligent. At the age of four, he was meticulously taught by his parents, who orally conveyed to him the meanings in the Four Books, Five Classics, and other classical texts. As he grew up, he studied under the scholar Bảng Nhãn Lương Đắc Bằng, a native of Hội Trào village, Hoằng Hóa district, Thanh Hóa province. Nguyễn Bỉnh Khiêm excelled in his studies and became renowned for his literature and poetry.
One day, Lương Đắc Bằng fell seriously ill, realizing he could not survive, so he handed Nguyễn Bỉnh Khiêm a book called Thái Ất Thần Kinh. This book had previously been given to him by the Chinese when he was on a diplomatic mission to China. Nguyễn Bỉnh Khiêm diligently studied the book, and before long, he understood the profound mysteries of Heaven and Earth. From then on, he became famous for his knowledge of astrology and numerology..
When Mạc Đăng Dung usurped the Lê throne, the country was in chaos, and he did not accept an official position. However, the Mạc dynasty required scholars to participate in exams so that the court could select talented individuals to help the nation. Because his elderly mother needed sufficient care and many friends earnestly advised him, he reluctantly went to the capital to take the...
- Trạng-Trình
Cụ Trạng họ Nguyễn, húy Bỉnh Khiêm, tự Hạnh Phủ, hiệu là Bạch Vân Cư Sĩ, đời sau gọi Ngài là Tuyết Giang phu tử. Cụ sinh năm Tân Hợi (1491), đời vua Lê Thánh Tôn, niên hiệu Hồng Đức thứ 22, tại làng Cổ Am (Trung An), huyện Vĩnh Lạc (nay là Vĩnh Hảo), tỉnh Hải Dương, Bắc phần Việt Nam.
Thân sinh là ông Văn Đình, sau được nhà Mạc truy tặng chức Thái Bảo Nghiêm Quận Công. Thân mẫu là con gái quan Hộ Bộ Thượng thư Nhữ văn Lâu; sau Bà được truy phong là Từ Thục Phu nhân.
Thuở nhỏ Ông thông minh khác thường. Mới bốn tuổi ông được song thân tận tình chỉ dạy truyền khẩu, những nghĩa lý trong Tứ Thơ, Ngũ Kinh cùng các kinh truyện khác. Lớn lên, Ông theo học với quan Bảng Nhãn Lương Đắc Bằng, người làng Hội Trào, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nguyễn Bỉnh Khiêm học rất giỏi và nổi tiếng về văn thơ.
Một hôm Lương Đắc Bằng đau nặng, biết không thể sống được, bèn trao cho Bỉnh Khiêm một quyển sách tên là Thái Ất Thần Kinh, quyển sách nầy trước kia do người Tàu tặng cho Ông khi Ông đi sứ sang Trung Quốc. Nguyễn Bỉnh Khiêm cố công nghiên cứu sách ấy, chẳng bao lâu Ông thông suốt những huyền vi của Trời Đất. Từ đó, Ông nổi tiếng về khoa Lý số.
Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, trong nước loạn lạc, Ông không chịu xuất chính. Nhưng nhà Mạc buộc các sĩ phu phải ra ứng thí để triều đình tuyển chọn hiền tài giúp nước. Nhân có mẹ già cần đủ y thực cung phụng, và nhiều bạn hết sức khuyên giải, Ông mới miễn cưỡng lai Kinh ứng thí.
Lúc 44 tuổi Ông đỗ Giải Nguyên kỳ thi Hương. Năm sau thi Đình, Ông đỗ Trạng Nguyên, nhằm niên hiệu Đại chính, đời vua Mạc Đăng Doanh.
Ông được nhà Mạc phong chức Lại Bộ Tả Thị Lang kiêm Đông Các Đại Học sĩ. Làm quan được 8 năm, Ông có dâng sớ hạch tội và xin Vua nghiêm trị bọn lộng thần; nhưng thấy không hiệu quả Ông bèn từ quan (1542, đời Mạc Phúc Hải) về trí sĩ. Khi về làng, Ông lập một cái am để tu dưỡng, đặt tên là “Bạch Vân Am”, lấy hiệu là Bạch Vân Cư sĩ. Ông cũng có dựng lên một cái nhà nghỉ mát bên sông Tuyết Giang, đặt tên là Trung Tâm... - Seven Mounts
The meaning of the word Thất Sơn is the seven mountains in the Châu Đốc region, near the Khmer-Vietnamese border. These seven mountains are:
1.- Anh Vũ Mountain (Két Mountain): Height 125m, located in Thới Sơn commune, Tịnh Biên district (Châu Đốc). The mountain is named Két Mountain because the tip of the rock resembles the beak of a parrot.2.- Ngũ Hồ Mountain (Five Wells Long Mountain, near Két Mountain): The exact height is unknown, but in the middle of the mountain there are 5 small water wells.
3.- Thiên Cẩm Mountain (Sky Brocade Mountain): Also known as Cấm Mountain, height 716m, length 7,500m, width 6,800m, located between Tịnh Biên and Tri Tôn districts (Châu Đốc). This mountain was formerly called Gấm Mountain. Perhaps because of the green tree ridges and white rock peaks, with "Tứ vi clouds covering and wandering around" on the mountain, it appeared with beautiful brocade colors. Later it was called Cấm Mountain because in the past Prince Nguyễn Ánh was pursued by the Tây Sơn army and hid on this mountain. Officials then ordered a ban on local people visiting, claiming that the area was full of wild beasts.
Some people also believe that because the Buddha Master Tay An prophesied that in the future there will be a golden temple with jade halls of the Holy King on this mountain, He forbade His disciples from building pagodas or living on this mountain to avoid desecrating the sacred mountain. This was also instructed by Master Huynh Giao Chu to his followers.
4/- Lien Hoa Mountain (Elephant Mountain): Height 115m, length 600m, width 400m, located in Ba Chuc commune, Tri Ton district (Chau Doc). The mountain is named Elephant Mountain because from a distance it appears to look like an elephant.
5/- Thuy Dai Mountain (Water Mountain near Elephant Mountain): Height 50m, in the same village as Elephant Mountain.
6/- Ngoa Long Mountain (Long Mountain): Height 580m, length 8,000m, located in Tri Ton district (Chau...
- Bảy-Núi
Nghĩa của chữ Thất sơn, tức là bảy núi ở vùng tỉnh Châu Đốc, gần biên thùy Miên-Việt. Bảy ngọn núi ấy gồm có:
1.- Anh Vũ sơn (núi Két): Cao 125m, thuộc xã Thới Sơn, quận Tịnh Biên (Châu Đốc). Sở dĩ núi nầy lấy tên núi Két, là vì trên chót mỏm đá giống hình mỏ chim két.
2.- Ngũ Hồ sơn (Núi Dài Năm Giếng, gần núi Két): Chưa biết rõ cao bao nhiêu thước, trên giữa núi có 5 giếng nước nhỏ.
3.- Thiên Cẩm sơn (núi Gấm Trời): Cũng có tên là núi Cấm, cao 716m, dài 7.500m, ngang 6.800m, nằm giữa hai quận Tịnh Biên và Tri Tôn (Châu Đốc). Núi nầy khi xưa có tên núi Gấm. Có lẽ vì các rặng cây xanh và các chỏm đá trắng, trên núi có “Tứ vi mây phủ nhiễu đoanh” mà hiện ra màu gấm vóc đẹp xinh. Nhưng sau nầy có mang tên núi Cấm là vì khi xưa Hoàng tử Nguyễn Ánh bị giặc Tây Sơn truy nã, có ẩn ánh tại núi nầy, các quan ra lịnh cấm không cho dân chúng đến, viện lẽ nói nơi đây có nhiều ác thú.
-Cũng có người cho rằng vì Đức Phật Thầy Tây An tiên tri ngày sau tại núi nầy sẽ có đền vàng điện ngọc của Thánh Vương, nên Ngài cấm các đệ tử không cho cất chùa hay ở trên nầy để tránh sự làm ô uế non linh. Điều nầy, Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng có căn dặn tín đồ như thế.4/- Liên Hoa sơn (núi Tượng): Cao 115m, dài 600m, ngang 400m, thuộc xã Ba Chúc, quận Tri Tôn (Châu Đốc). Sở dĩ có tên núi Tượng vì đứng xa nhìn lên chót thấy giống hình con voi.
5/- Thủy Đài sơn (núi Nước gần núi Tượng): Cao 50m, cùng thôn với núi Tượng.6/- Ngoạ Long sơn (núi Dài): Cao 580m, dài 8.000m, thuộc quận Tri Tôn (Châu Đốc). Người ta đặt tên như thế vì núi nầy dài tới 8 cây số ngàn giống hình con rồng nằm.
7/- Phụng Hoàng sơn (núi Tô): Cao 614m, dài 5.800m, ngang 3.700m, thuộc quận Tri Tôn (Châu Đốc).
Trên đây là dẫn theo tài liệu nhiều người kể lại, nhưng xét ra miền bảy núi còn có nhiều ngọn núi nữa, như núi Trà Sư, núi Bà Đội Om, núi Nam Vi, v.v…Vì vậy nên danh từ Thất sơn (bảy núi) còn có nghĩa chỉ chung tầt cả đồi núi thuộc tỉnh Châu Đốc.Chú Giải Sám Giảng (1975)
- Cho Dinh
The market near The Temple pier in Hòa Hảo commune, Tân Châu district (Châu Đốc), that's why they called it "the Market Temple".
Dinh (Chinese characters: 亭[1] or 庭[2]) is a traditional architectural structure in Vietnamese villages, serving as a place to worship the village guardian deity, people who have contributed to the country, national heroes, and also as a meeting place for the local community.[3]
In the South, village dinh are also called "Dinh than".
History
In the past, according to the general situation of the country, the dinh of Vietnamese villages was only an inn to rest. In 1231, Retired Emperor Tran Huy Tong issued a decree to erect a Buddha statue at the village inn.[4] In the tenth lunar month of 1491, Le Thanh Tong ordered the construction of Quang Van Dinh outside the Dai Hung gate (now the Nam Gate area, Hanoi),[5] serving as a place for people to drum to report grievances and as a place to announce and explain the policies of the feudal state in Thang Long.
The village communal house, with the function of being a place to worship the village guardian deity and a place for community gatherings, probably began during the early Lê dynasty and took shape during the Mạc dynasty.[6] The development of Confucianism in the late 15th century likely gradually integrated the guardian deity into the village communal house. However, the earliest traces of the village communal house show the guardian deity only from the 16th century. Previously, communal houses usually had only 3 bays and 2 wings. The middle bay did not have a platform; the guardian deity was worshipped there. By the late 17th century, the middle bay extended backward, called the 'chuôi vồ,' giving the communal house a 'Đinh' shape. By the late 17th century, especially the 18th century, communal houses were supplemented with the front hall. The communal house (in Chinese characters: 亭[1] or 庭[2]) is a traditional architectural structure in Vietnamese villages,...
- Chợ-Đình
Chợ gần bến Đình Thần xã Hòa Hảo, quận Tân Châu (Châu Đốc).
Đình (chữ Nho: 亭[1] hay 庭[2]) là một công trình kiến trúc cổ truyền ở làng quê Việt Nam, là nơi thờ Thành hoàng, những người có công với đất nước, các anh hùng dân tộc và cũng là nơi hội họp của người dân trong cộng đồng.[3]
Ở miền Nam, những ngôi đình làng còn được gọi là "Đình thần".
Lịch sử
Trước kia theo tình hình chung của cả nước, đình của các làng mạc Việt Nam chỉ là quán để nghỉ. Năm 1231, thượng hoàng Trần Huy Tông xuống chiếu cho đắp tượng Phật ở đình quán.[4] Tháng 10 âm lịch năm 1491, Lê Thánh Tông cho xây dựng Quảng Văn đình ngoài cửa Đại Hưng (nay là khu vực Cửa Nam, Hà Nội),[5] là nơi để dân chúng đánh trống kêu oan và nơi ban bố, giảng giải các chính sách của nhà nước phong kiến tại Thăng Long.
Ngôi đình làng với chức năng là nơi thờ thành hoàng và là nơi hội họp của dân chúng có lẽ bắt đầu vào thời Lê sơ và định hình vào thời nhà Mạc.[6] Có lẽ sự phát triển của Nho giáo vào cuối thế 15 đã cấy dần Thành hoàng vào đình làng. Nhưng hiện nay dấu vết sớm nhất của đình làng thì Thành hoàng chỉ gặp từ thế kỷ 16. Trước đây đình thường chỉ có 3 gian và 2 chái. Gian giữa không có sạp, trong gian thờ Thành hoàng. Cuối thế kỷ 17 từ gian giữa và kéo dài về sau gọi là chuôi vồ, tạo cho đình làng mang kiểu chữ Đinh. Cuối thế kỷ 17, nhất là thế kỷ 18, đình làng được bổ sung tòa tiền tế.
Open Wikipedia
- Vinh Long
Province number 17 in Southern Vietnam during the French colonial period. To the east, it borders Kiến Hòa and Vĩnh Bình provinces; to the west, it borders Kiến Phong (Sa Đéc); to the south, it borders Phong Dinh (Hậu Giang); to the north, it borders Định Tường. The area is 1,804 square kilometers.
- Vĩnh-Long
Tỉnh số 17 ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc. Đông giáp tỉnh Kiến Hòa và Vĩnh Bình; Tây giáp Kiến Phong (Sa Đéc); Nam giáp Phong Dinh (Hậu giang ); Bắc giáp Định tường. Diện tích 1.804 km vuông
- Kien Vang
The name of a village in Thủ Thừa district, Long An province (Southern Vietnam)
- Kiến-Vàng
Tên một làng trong quận Thủ Thừa, thuộc tỉnh Long An (Nam Việt Nam)
- Ba Cum
The name of a deserted area between Cho Dem and the Ben Luc River, belonging to Long An province, along the river that runs from Cho Lon to Ben Luc. At the water's edge, there are three large banyan trees, where passing boats often stop to rest, waiting because the waters are very crowded, so there are many thieves; hence it became famous as 'Boi Ba Cum'.
After advising the people at Ben Luc, the Holy Master immediately went to Ba Cum, a place notorious for greed and theft. Upon arriving, He no longer spoke in verses, but disguised Himself as a girl selling fermented fish, with a simple and rustic appearance.
The market women at Ba Cum, relying on their cleverness, would use all sorts of tricks to pick on and boss others around. They used obscene words, cursing the honest. Seeing this, the Holy Master immediately made people and things disappear, causing the locals here to tremble in fear.
Oracle Vol I, Annotated Commentary (1975)
Between the two rivers Vàm Cỏ Đông and Sài Gòn, there is a connecting stretch of river. Because it is affected by the tides of both rivers, when the water flows downstream, boats travel easily; when the water flows upstream, boats anchor and wait for the favorable tide. Therefore, this section is always bustling with boats, lively with the scene of 'on the wharf and below the boat'; surely everyone has heard of Bình Đông wharf.
At that time, around the mid-18th century, this stretch “still had many places dominated by warlords, pirate boats would gather to harass merchant vessels (in the past there were remnants of 'Bối Ba Cụm')”. Mr. Nguyễn Cư Trinh (one of the people who made the greatest contributions to this land) proposed many initiatives, establishing the practice of inspecting all boats, regardless of size, requiring the bow to display the owner’s name, birthplace, boat owner, and to record it with the local authorities for easy verification.
Speaking again about Ba Cụm, this is a small...
- Ba-Cụm
Tên một vùng hoang vu giữa chợ Đệm và Vàm sông Bến Lức, thuộc tỉnh Long An, bên con sông nằm dọc từ Chợ Lớn đến Bến Lức. Nơi giáp nước có ba cội da to, ghe xuồng qua lại thường đậu nghỉ tay, chờ nước rất đông nên có nhiều bối (kẻ trộm cắp); vì thế mới nổi danh là “Bối Ba Cụm”.
Đức Giáo Chủ khuyên đời tại Bến Lức xong, Ngài đi luôn đến Ba Cụm, một nơi nổi tiếng là tham lam trộm cắp. Đến đây, Ngài không nói vè thơ nữa, mà giả ra một cô gái bán mắm với dáng vẻ quê mùa chất phác.
Các chị bạn hàng ở chợ Ba Cụm, ỷ mình lanh lợi, giở đủ trò bắt bẻ xài xể. Họ dùng những tiếng tục tằn, chửi rủa kẻ thật thà. Thấy thế, Đức Thầy liền cho người và vật đều biến mất, khiến dân chúng ở đây phải giựt mình kinh sợ.Chú Giải Sám Giảng (1975)
Giữa hai sông Vàm Cỏ Đông và Sài Gòn có đoạn sông nối. Vì chịu tác động thủy triều của hai con sông, lúc nước xuôi thì tàu thuyền thuận lợi, nước ngược thì cắm thuyền đợi lúc nước thuận. Vì thế nên khúc này, tàu thuyền luôn tấp nập, nhộn nhịp cảnh “trên bến dưới thuyền”, hẳn ai cũng tửng nghe bến Bình Đông.

Bấy giờ khoảng giữa thế kỷ 18, đoạn này, “còn nhiều chỗ xưng bá, thuyền cướp tụ tập phá quấy ghe thương hồ, (ngày trước còn để lại tàn tích “bối Ba Cụm”)”. Ông Nguyễn Cư Trinh (một trong những người có công to lớn nhất ở đất này) nhiều sáng kiến, bày ra lệ bắt thuyền các hạt, bất luận lớn nhỏ, trước mũi phải khai tên họ, quê quán, chủ thuyền, và ghi bộ quan sở tại để tiện tra xét.
Lại nói về Ba Cụm, đây là 1 làng nhỏ ven đoạn sông, nay thuộc xã Tân Bửu, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Khu này cùng với Chợ Đệm, Bình Điền, giặc quấy rất ác. Có câu chuyện cổ Nam Bộ về “bối Ba Cụm”, đọc cho vui:
“Chiếc ghe cui khẳm đừ. Trên chất rất nhiều hủ đường vàng nghỉnh, loại hủ 20 lít, chuyên đựng đường chảy mà dân gian gọi là đường hủ. Một người ngoài tứ tuần đang chèo từ từ ngắm cảnh tìm mối quen dừng ghe mua ít thứ chạp phô (tạp hoá) nấu bữa cơm chiều. Trước mũi ghe là một cô gái bảnh bao trong bộ bà ba áo lãnh Cẩm...
- Ben Luc
A district in Long An province (before 1939 it was Tân An), where the resistance against the French by Mr. Nguyễn Trung Trực took place, on the historical river Vàm Cỏ Đông (Nhựt Tảo). According to the Sa1mGia3ng Commentary (1975).
According to Wikipedia, today Bến Lức District is located in the northeast of Long An province, serving as the northern gateway to the southwestern region of Vietnam, about 30 km southwest of Ho Chi Minh City center, about 15 km northeast of Tân An city, with geographical positions as follows:
To the east, it borders Cần Giuộc District and Bình Chánh District, Ho Chi Minh City.
To the west, it borders Thủ Thừa District.
To the south, it borders Cần Đước District and Tân Trụ District.
To the north, it borders Đức Hòa District and Đức Huệ District.
According to 2019 statistics, the district has an area of 287.86 km², a population of 181,660 people, with a population density of 631 people/km².
Bến Lức District is a strategic area for the economy and military of Ho Chi Minh City. National Highway 1 is the main national transport route connecting the key economic region in the south with the Mekong Delta, passing through the district Bến Lức, facilitating economic development, cultural exchange, quick access to the latest information in the country, integrating with the market economy, developing children
- Bến-Lức
Một quận trong tỉnh Long An (năm 1939 về trước là Tân An), nơi kháng chiến chống Pháp của Ngài Nguyễn Trung Trực, trên con sông lịch sử là Vàm Cỏ Đông (Nhựt Tảo). Theo Chú Giải Sa1mGia3ng (1975)
Theo Wikipedia, ngày nay Huyện Bến Lức nằm ở phía đông bắc của tỉnh Long An, là cửa ngõ phía bắc của miền Tây Nam Bộ, nằm cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30 km về hướng tây nam, cách thành phố Tân An khoảng 15 km về hướng đông bắc, có vị trí địa lý:
- Phía đông giáp huyện Cần Giuộc và huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Phía tây giáp huyện Thủ Thừa
- Phía nam giáp huyện Cần Đước và huyện Tân Trụ
- Phía bắc giáp huyện Đức Hòa và huyện Đức Huệ.
Theo thống kê năm 2019, huyện có diện tích 287,86 km², dân số là 181.660 người, mật độ dân số đạt 631 người/km².[1]
Huyện Bến Lức là một địa bàn chiến lược về kinh tế và quân sự của thành phố Hồ Chí Minh. Quốc lộ 1 là trục giao thông chính của Quốc gia nối liền địa bàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với đồng bằng sông Cửu Long đi qua huyện Bến Lức, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế, giao lưu văn hoá, tiếp cận nhanh chóng những thông tin mới nhất trong nước, hoà nhập với kinh tế thị trường, phát triển nhiều loại hình dịch vụ, hình thành các điểm trung chuyển hàng hoá giữa miền Tây lên Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại.
- Ông-Lãnh
Tên một chợ gần dốc cây cầu bắc ngang rạch Bến Nghé nối vùng Vĩnh Hội với Thành phố Sài Gòn, cũng là tên khu đất nằm dọc theo rạch phía Sài Gòn, thuộc quận II Đô Thành.
Tên gọi bắt nguồn từ vị lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, người đã dựng cây cầu gỗ đầu tiên vào thế kỷ 19 nhằm thuận tiện cho việc giao thông và phòng thủ. Về sau dưới thời Pháp thuộc cầu được xây kiên cố bằng xi măng, trởthành điểm mốc quan trọng trong giao thương đường thủy.
- Ong Lanh
Cầu Ông Lãnh (Vietnamese: Phường Cầu Ông Lãnh) is a ward of Ho Chi Minh City, Vietnam. It is one of the 168 new wards, communes and special zones of the city following the reorganization in 2025.[4][5]
The name originates from the military leader Nguyễn Ngọc Thăng, who built the first wooden bridge in the 19th century to facilitate transportation and defense. Later, during the French colonial period, the bridge was solidly constructed with cement, becoming an important landmark in waterway trade.
- Rach Chanh
After passing Rạch Chanh, the Master saw that Kiến Vàng village was also nearby, so He had the boat go quickly there. Here, houses were sparse, but what was valuable was that there were many sincere people practicing, and when encountering disabled beggars, they did not dare to despise them, and even helped them.
From here, the Master took the boat down the Vàm Cỏ River to reach Bến Lức market, where boats crowded together and bustling trade occurred. He immediately went ashore, pretending to be disabled, following the streets to beg for money on carriages, always reciting poems. But His poems were different from those of ordinary beggars, only speaking consistently about divine principles and morality, so when the local people heard them, their hearts began to stir in contemplation.
- Rạch-Chanh
Qua khỏi Rạch Chanh, Đức Thầy thấy xã Kiến Vàng cũng kề cận, nên Ngài cho thuyền đi nhanh
tới đó. Nơi đây nhà dân thưa thớt, nhưng điểm đáng quí là có nhiều người chơn thật tu hành, gặp kẻ
tàn tật ăn xin, họ chẳng dám khinh chê, lại còn ra tay giúp đỡ.
Khỏi đây, Đức Thầy xuôi thuyền theo sông Vàm Cỏ để đến chợ Bến Lức nơi thuyền ghe phố xá
chen chúc, dân chúng buôn bán đông đảo. Ngài liền lên bờ, giả ra người tàn tật, lần theo các ngã
đường đón xe xin tiền, miệng luôn đọc thơ vè. Nhưng thơ của Ngài nói ra khác hơn thơ của kẻ ăn xin
thường tình, chỉ nói ròng việc thiên cơ đạo lý, nên khi dân chúng ở đây được nghe qua, lòng họ bắt
bồi hồi suy nghĩ. - Cao Lanh province
A district in Sa Đéc province, consisting of 19 communes, was used as a gathering place for six months for the Đồng Tháp guerrilla resistance forces after the Geneva Agreement; from 1956, Cao Lãnh became the provincial capital of Kiến Phong province (Southern Vietnam).
- Cao-Lãnh
Một quận trong tỉnh Sa Đéc, gồm có 19 xã, được làm nơi tập kết trong 6 tháng cho
quân du kích kháng chiến Đồng Tháp, sau hiệp định Genève; từ năm 1956 Cao Lãnh là tỉnh lỵ của tỉnh
Kiến Phong (Miền Nam Việt Nam). - Mac Dzung
It is the Mặc Cần Dưng canal, located in Binh Hoa commune, Chau Thanh district, Long Xuyen (An Giang).

- Mặc-Dưng
Là rạch Mặc Cần Dưng, thuộc xã Bình Hòa, quận Châu Thành, Long Xuyên (An Giang).
- Vinh Te
It is the name of the canal dug from Giang Thành, Hà Tiên, along the Vietnam-Cambodia border, connecting to the Hậu Giang River, Châu Đốc, 72 km long and 20 m wide. At the proposal of the Gia Định governor Lê Văn Duyệt to the court in the year Kỷ Mùi 1819, and carried out by the Vĩnh Thanh governor Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu) and military leader Phan Văn Tuyên as supervisors; with the effort of 10,000 villagers and 500 soldiers, digging continued from the beginning of 1819 until April 1820 to complete. In this work, Madame Châu Thị Vĩnh Tế (wife of Thoại Ngọc Hầu) actively contributed her energy to complete the canal, so King Gia Long named it Vĩnh Tế Canal to acknowledge the hard work of the people who contributed.
- Vĩnh-Tế
Là tên con kinh đào từ Giang Thành, Hà Tiên, dọc theo biên giới Việt-Miên, thông về sông Hậu Giang, Châu Đốc, dài 72 km, rộng 20 m. Do Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt thượng sớ đề nghị với Triều đình năm Kỷ Mùi 1819 và do trấn thủ Vĩnh Thanh Nguyễn Văn Thọai (Thoại Ngọc Hầu) và Lãnh binh Phan Văn Tuyên làm đốc công; với sức lực của 10.000 dân làng và 500 binh sĩ, đào suốt từ đầu năm 1819 tới tháng 4 năm 1820 mới xong. Trong công tác nầy, có bà Châu thị Vĩnh Tế (Phu nhơn Thoại Ngọc Hầu) tích cực đóng góp tâm lực vào để hoàn thành con kinh nên vua Gia Long đặt cho tên là Kinh Vĩnh Tế, để đáp lại việc khó nhọc của người hữu công.
- Xang canal
During the French colonial period, the canal was dredged from the Tien River branching into the Hau River, above Chau Doc Market, so it was named the New Canal, also called Tan Chau Canal.
The folk saying 'Cai Rang, Ba Lang, Vam Xang, Phong Dien' easily makes those who are not from Can Tho think that these are four different places. In fact, these are four locality names but only two actual locations. This is because Ba Lang belongs to Cai Rang, while Vam Xang belongs to Phong Dien. If the above folk saying is explained a little further for clarity, it would be 'Cai Rang has Ba Lang, Vam Xang is in Phong Dien.'
Cai Rang is an inner-city district, while Phong Dien is a suburban district of Can Tho city.
Ba Lang is a ward of Cai Rang district, and the western side of this ward borders Phong Dien district.
- kinh Xáng
Kinh do thời Pháp thuộc do xáng múc từ sông Tiền trổ qua sông Hậu, phía trên chợ Châu Đốc, nên có tên là Kinh Xáng mới, cũng gọi là Kinh Xáng Tân Châu.
Câu ca dao "Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền" dễ làm những người không phải dân Cần Thơ nghĩ rằng đây là 4 địa điểm khác nhau . Thiệt ra, đây là 4 địa danh nhưng chỉ có 2 địa điểm thôi. Bởi vì Ba Láng thuộc Cái Răng còn Vàm Xáng thuộc Phong Điền. Câu ca dao trên nếu diễn giải dài hơn một chút cho rõ nghĩa thì sẽ là "Cái Răng có Ba Láng, Vàm Xáng ở Phong Điền".
Cái Răng là quận nội đô, Phong Điền là huyện ven đô của thành phố Cần Thơ.
Ba Láng là phường thuộc quận Cái Răng, phía Tây của phường này giáp huyện Phong Điền.
Kinh Xáng Xà No là con kinh nổi tiếng và quan trọng bậc nhứt ở miền Tây, từ lâu được xem là con đường lúa gạo của miền Tây sông Hậu. Kinh Xáng Xà No nổi tiếng đến mức ở Cần Thơ - Hậu Giang chỉ cần nói Kinh Xáng thì mặc nhiên người ta hiểu là kinh Xáng Xà No, dù rằng những con kinh do xáng đào ở miền Tây thì nhiều lắm. Tương tự như vậy, nói Vàm Xáng thì hiểu ngay đó là ngã ba sông chỗ kinh Xáng Xà No chảy ra sông Cần Thơ.
Ngoài Vàm Xáng ở Phong Điền như kể trên thì miền Tây còn có những vàm xáng khác, theo đúng định nghĩa ngã ba kinh xáng chảy ra sông lớn, như Vàm Xáng ở Lai Vung, Đồng Tháp, Vàm Xáng ở Châu Phú, An Giang...
- Tan Thanh town
A commune in Hong Ngu district, located along the Ca Cai canal, belonging to the head of the Hong Ngu river, extending deep into the fields.
- Tân-Thành
Một xã trong quận Hồng Ngự, nằm theo rạch Cả Cái, thuộc ngọn sông Hồng Ngự, ăn sâu vô đồng
- Hong Ngu
Hồng Ngự is a provincial city (thành phố) in Đồng Tháp Province in the Mekong Delta region of Vietnam. It was separated from Hồng Ngự District in 2008.[1]
The city is subdivided into 5 wards: An Bình A, An Bình B, An Lạc, An Lộc and An Thạnh, and 2 communes: Tân Hội, Bình Thạnh.
Geography
Hồng Ngự city has its borders with Cambodia; bordered with Pray Veng province, Cambodia in the North, with Tam Nông district in the South, with Tân Hồng district in the East, and with Hồng Ngự district in the West.[2]
Economic development

Hồng Ngự city is known as one key urban areas of Đồng Tháp province. Additionally, Hồng Ngự city is the key economic zone of the Đồng Tháp province in the North in agriculture and border economy.[2] This economic centre not only influences in Dong Thap province, but also contributes to the development of the economy of the whole area of Đồng Tháp Mười and the economic border corridor of the province.[3]
References
- Local Government
- "CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH ĐỒNG THÁP". dongthap.gov.vn. Retrieved 16 December 2022.
- ONLINE, TUOI TRE (18 September 2020). "Đồng Tháp có thêm thành phố Hồng Ngự giáp Campuchia". TUOI TRE ONLINE (in Vietnamese). Tuoitrenews. Retrieved 16 December 2022.
- Hồng-Ngự
Tên một quận trong tỉnh Kiến Phong, gồm có 14 xã, trước năm 1956 thuộc tỉnh Châu Đốc.
- Non-Bong
The Immortal scenery on Mount Bồng Lai. Here it refers to the Master revealing the Great Way; if anyone
practices according to the teachings correctly, they will escape the mundane world and enjoy the free and serene realm of the Immortals and Buddhas. The teachings are likened to a boat; if anyone is willing to step in (into the Way) and try to row (practice the path), they will reach the opposite shore of liberation. The Master advises:
“Encouraging the people to understand morality and virtue,
Practicing to behold the scene of Bồng Lai.”(Visiting Non Ong Ket)
- Non Bồng
Cảnh Tiên ở núi Bồng lai. Ở đây ý nói Đức Thầy khai truyền Đại đạo nếu ai tu đúng theo giáo pháp thì được thoát khỏi miền trần tục mà hưởng cảnh tiêu diêu tự tại của Tiên Phật. Bởi giáo pháp ví như thuyền bè, nếu ai chịu bước xuống (vào Đạo) và cố gắng chèo chống (hành đạo) tức sẽ tới bờ bên kia giải thoát. Đức Thầy khuyên nhắc:
“Khuyến dạy dân tình minh đạo đức,
Tu hành được kiến cảnh Bồng Lai”. (Viếng Non Ông Két) - Sir Quan
THE PERSON WHO CALLED HIMSELF QUAN VAN TRUONG: He is Mr. Nam Han, that is Le Van Han from Kien Phu Thuong Hamlet, Kien An Commune, Cho Moi District (An Giang). He often called himself Quan Van Truong when performing treatment for the people, and each time he did so, he would shout loudly.
- ông Quan
NGƯỜI XƯNG HIỆU QUAN VÂN TRƯỜNG: Là ông Năm Hẳn, tức Lê Văn Hẳn ở ấp Kiến Phú Thượng, xã Kiến An, quận Chợ Mới (An Giang). Ông thuờng xưng là Quan Vân Trường về phần cho Ông để trị bịnh cứu dân, mỗi lần như vậy là có la hét lớn tiếng.
- Sir Phoi
He is Mr. Lê Văn Phối, living in Long Quới II hamlet, Long Điền commune, Chợ Mới district (An Giang), about 1 kilometer upstream of Xẻo Môn canal. He served as the Hương master in the village Hội Tề Board during the French colonial period, so he is commonly referred to as Chủ Phối (He is related to Đức Bà, the mother of Đức Thầy).
- chủ Phối
Là ông Lê Văn Phối, ở ấp Long Quới II, xã Long Điền, quận Chợ Mới (An Giang), ở phía trên rạch Xẻo Môn khoảng 1 cây số, ông làm Hương chủ trong Ban Hội Tề làng, dưới thời Pháp thuộc, nên gọi tắt là Chủ Phối ( Ông nầy có bà con với Đức Bà, thân mẫu Đức Thầy).
- Ong Chuong
Also known as Cù lao Ông Chưởng (or Rạch Ông Chưởng), Sir Chuong Islet (or Sir Chuong Riverlet) belonging to Định Hoà commune (Xã), Chợ Mới district (Quận), An Giang province. This islet used to be called “Tiêu Mộc.” Lord Chưởng Binh Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh (Kính) suppressed the rebellion in Chân Lạp (Cambodia) in the year Kỷ Mão 1699, then stationed his troops here and later died of illness. The local people admired his merits and therefore renamed the place Cù lao Ông Chưởng in his honor. This is a densely populated and the largest islet in An Giang province, consisting of four communes: Kiến An, Mỹ Hội Đông, Nhơn Mỹ, and Long Kiến. People in the South often sing:
“Three times the crow spoke to the hawk,
Sir Chưởng Islet has plenty of fish and prawns.” - Ông-Chưởng
tức Cù lao Ông Chưởng (hay rạch Ông Chưởng), thuộc tổng Định Hoà, quận Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cù lao nầy trước kia có tên là “Tiêu Mộc”. Quan Chưởng Binh Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh ( Kính ) dẹp loạn ở Chân Lạp (Miên) năm Kỷ Mão 1699 về đây đóng binh rồi thọ bịnh mất. Dân chúng địa phương ngưỡng mộ công lao của Ông nên đổi tên trên lại là Cù lao Ông Chưởng. Đây là một Cù lao dân cư đông đảo và lớn nhứt trong tỉnh An Giang, có 4 xã: Kiến An, Mỹ Hội Đông, Nhơn Mỹ và Long Kiến. Dân chúng miền Nam thường hát:
“Ba phen quạ nói với diều,
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm”. - Hell
This is the place where King Yan evaluates a person’s karma, both sins and merits, to make decisions. Whoever creates virtuous deeds will be reborn into the realms of Immortals and Buddhas, while those who commit sinful acts will be condemned to lowly realms and suffer endless torment. Once there, even if one regrets and repents past evil actions or wants to find a way to amend them, it will be too late.
Yan is another name for the noun hell, also called yanpu, yanding, and the one in charge can be called Lord Yan or King Yan. Hell is the opposite of Heaven or the Pure Land, where those who have accumulated much merit during their lifetime are guided to the higher realms upon death.
It is also a form of court in the underworld to judge sins, demonstrating that Heaven and Buddha are fair, so that people in the mortal world know not to continue committing many crimes, thinking that no one knows and that they will face no punishment after death, and that everything will be forgotten.
In the mortal world, if anyone does wicked deeds, when they die, their soul will be drawn by karma into hell to endure severe punishment.
Although Heaven's net may be wide, it is difficult for even a single hair to slip through (Heaven's net is vast, yet nothing escapes it). Human lives persistently tread the path of sin, and when the time of impermanence comes, before the judgment of Yama, not even a small point can be denied: 'Even a half-point of fault at the moonlit observation is fully visible; all cunning schemes are revealed.' (When one descends to the netherworld, even half a point of sin is hard to hide because it is reflected clearly in the mirror of the moon stage. Here, all hundreds of misguided schemes and errors are revealed) (From True Enlightenment in the World). - At that time, the judge will bring out the daily record of sins and merits, and Yama will judge the person’s deeds; rewards and punishments are executed very fairly. 'When the...
- Diêm-La
Đây là nơi mà Vua Diêm Vương căn cứ vào nghiệp tội, phước của con người mà quyết định. Hễ ai tạo phước đức được siêu sanh lên cõi Tiên Phật, bằng gây nghiệp tội ác sẽ bị đọa vào các cảnh giới thấp hèn, chịu muôn ngàn thảm khổ. Đến đấy, dù ta có hối hận ăn năn những hành động tội ác quá khứ hay muốn tìm phương sửa đổi cũng không thể kịp.
Diêm lả tên gọi khác của danh từ địa ngục, diêm phù đề, diêm đình, còn người cai quản có thể gọi là Diêm Chúa, Diêm Vương. Địa ngục có nghĩa ngược lại với Thiên Đàng hay Cực Lạc nơi những người lúc còn sống trên gian tích lủy nhiều phước khi mất được ơn trên tiếp dẫn về cõi trên.
Đó cũng là một thứ tòa án của cõi âm để luận tội, chứng tỏ rằng Trời Phật công bình, cho người thế gian biết để không tiếp tục phạm nhiều tội lỗi, rồi nghĩ rằng kh6ng có ai biết, rằng mình sẽ không phải chịu hình phạt nào hết khi chết đi, mọi sự điền đi vào quên lãng.
Nhân loại ở thế gian nếu ai làm điều hung ác thì khi chết linh hồn bị nghiệp lực hút vào Địa ngục chịu sự hình phạt khốc liệt. Lưới trời tuy thưa, nhưng khó lọt dù một mảy lông (Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu). Kiếp sống của con người cứ miệt mài con đường tội ác, một khi số vô thường đến thì trước công án của Diêm Vương, dù một điểm nhỏ cũng không cãi chối được:“Bán điểm nan mãn nguyệt cảnh minh, Bá kế thiên mưu đô thị thố”.( Đến lúc thác xuống âm ti dù nửa điểm tội cũng khó che dấu được, vì cái kiếng tại đài nguyệt cảnh chiếu rất rõ ràng. Ở đây có trăm điều mưu kế lầm lỗi đều hiện ra tất cả) (Trong Tỉnh Thế Ngộ Chơn).
-Bấy giờ Phán quan sẽ đem bản ghi chép tội phước hằng ngày ra và Diêm Vương sẽ xét xử kẻ tội
phước; đâu đó thưởng phạt rất công minh."Khi nhắm mắt hồn lìa khỏi xác,
Quỉ Vô-Thường dắt xuống Diêm-Đình.
Sổ sách kia tội phước đinh-ninh,Phạt với thưởng hai đường tỏ rõ.
(Sám Giảng Quyển Nhì, câu 321-325)
Chú Giải Sám Giảng (1975)
- Samsara
Until we are awakened, we live in samsara. Habit keeps us trapped in this cyclic existence, which is characterized by suffering. The cycle of samsara in Buddhism is broken when we choose to follow the noble eightfold path toward nirvana.
Samsara is a Pali and Sanskrit word which can be translated as wandering, flowing onward, or cyclic change. The concept of samsara is related to the repeating cycle of birth, life, and death, which is also known as the wheel of life, the wheel of existence, or the karmic cycle.
According to the Buddhist world view, all life cycles through a process of becoming, existing and dissipating. We have been doing this since the beginning of time, and will continue to do so without end. This cycle can be understood on a gross level, as we mark birthdays, lifetimes and the day of death. It can also be understood on a moment-to-moment level, as we ‘die’ to one chapter of our lives and get born into another.
In Buddhism, this cyclic existence is particularly characterized by suffering. For it is our habitual dissatisfaction and discontentment with the present moment, our ignorance, that keeps us in the self-perpetuating cycle of samsara. Not understanding the true nature of reality, we keep placing our hope for happiness and contentment in the ordinary existence of the mundane world.
Some of us have even managed to craft ourselves a designer samsara, with all the comforts of material luxury and supportive, kind and loving communities. And yet, our material goods break down, become obsolete or out of fashion, our families and friends grow old and leave us, and our world continues to change. Even in the best case, samsara can never lead to anything but pain. And so, where else can we go?
- honesty
Amitābha Buddha always eagerly looks forward to sentient beings who know how to turn their minds toward goodness and recite the Buddha's name to do good deeds. Although He sits in the Western Pure Land of Ultimate Bliss, He constantly uses the five-colored radiance to illuminate the entire Saha world. Whenever He finds a sentient being who knows how to cultivate themselves, establish virtues, and wholeheartedly recite His name, He supports and guides that being to be reborn in the Pure Land.
"The Pure Land practice is the ultimate path,
Diligently follow it so as not to fail the Buddha of the past."Amitābha Buddha always eagerly looks forward to sentient beings who know how to turn their minds toward goodness and recite the Buddha's name to do good deeds. Although He sits in the Western Pure Land of Ultimate Bliss, He constantly uses the five-colored radiance to illuminate the entire Saha world. Whenever He finds a sentient being who knows how to cultivate themselves, establish virtues, and wholeheartedly recite His name, He supports and guides that being to be reborn in the Pure Land. Speaking of doing good deeds, He never ceases to call upon:
"Everyone must strive to do good,
Recite the Buddha's name correctly to see the Immortals.But how does one do good?
Doing good is practicing acts of charity and virtue towards all beings. Everyone knows that doing good is noble, but few are willing to really do it, which is why the Master advises us to strive. However, to do good completely, a practitioner must avoid evil, meaning to both practice good and prevent evil.
The Minh Thánh Sutra says:"To practice good throughout life,
Even good is not enough;
Commit evil for one day,
Evil is already in excess."(Living a whole life doing good, good is still not enough; commit evil for one day, and evil immediately exceeds).
The Master today also teaches: “Do all acts of charity, avoid all acts of wrongdoing…” In short, a person who wants... - niệm Phật làm lành
Đức Phật A Di Đà lúc nào cũng rất mong đợi chúng sanh, biết hồi tâm hướng thiện, niệm Phật làm lành. Tuy Ngài an tọa nơi Tây phương Cực Lạc, nhưng luôn dùng hào quang năm sắc soi rọi khắp cõi Ta bà, tìm thấy chúng sanh nào biết tu thân lập hạnh, chuyên tâm trì niệm danh hiệu của Ngài thì Ngài ủng hộ và tiếp dẫn chúng sanh ấy được vãng sanh về cõi Cực Lạc.
"Môn Tịnh Độ là môn cứu cánh,
Rán phụng hành kẻo phụ Phật xưa."
Đức Phật A Di Đà lúc nào cũng rất mong đợi chúng sanh, biết hồi tâm hướng thiện, niệm Phật làm lành. Tuy Ngài an tọa nơi Tây phương Cực Lạc, nhưng luôn dùng hào quang năm sắc soi rọi khắp cõi Ta bà, tìm thấy chúng sanh nào biết tu thân lập hạnh, chuyên tâm trì niệm danh hiệu của Ngài thì Ngài ủng hộ và tiếp dẫn chúng sanh ấy được vãng sanh về cõi Cực Lạc. Nói về làm lành, thì Ngài cũng không ngớt kêu gọi:
“Bá gia phải rán làm lành,
Niệm-Phật cho rành đặng thấy Thần-Tiên."Mà làm lành thì làm thế nào?
Làm lành là tu hành những việc từ thiện phước nhân đối với cả muôn loài chúng sanh. Việc làm lành ai cũng biết là cao quý, nhưng thiệt thi thì ít ai chịu, cho nên Đức Thầy mới khuyên chúng ta phải rán. Song muốn làm lành cho trọn vẹn, hành giả cần phải tránh các điều dữ tức là vừa hành thiện và vừa ngăn ác.
Kinh Minh Thánh đã bảo:“Chung thân hành thiện,
Thiện du bất túc,
Nhứt nhựt hành ác,
Ác tự hữu dư”.
(Trọn đời làm lành, lành còn chưa đủ; một ngày làm dữ, dữ bèn có dư).
Đức Thầy nay cũng dạy:“Làm hết các việc từ thiện, tránh tất cả các điều độc ác…”. Tóm lại, người muốn làm lành cho trọn vẹn thì phải đáp Tứ Ân (hành Thiện) và chừa Thập Ác
(ngăn Ác) - Westerly devotion
DEDICATION OF MERIT: 'Hồi' means to transfer or redirect, 'hướng' means to look towards, that is, the merits and good roots that one has cultivated, now one vows to dedicate towards one's intended purpose. Therefore, the term 'hồi hướng' for Buddhist practitioners means turning one's merits towards three places:
1- The place of realizing the true nature as it is.
2- The place of aspiring for supreme Bodhi.
3- The place of saving all sentient beings.
In addition, merits can also be dedicated to the Nine Generations and the Seven Ancestral Lineages to help them ascend to the Pure Land. But here, the term 'hồi hướng' specifically refers to redirecting merits towards rebirth in Sukhavati (the Western Pure Land). The Master has a couplet:
"Offer the body in dedication to the source of goodness,
Serve the Buddhas and Patriarchs with utmost sincerity and truth."
(For Mr. Cò Tàu Hảo) - Tây-phương hồi hướng
HỒI HƯỚNG: Hồi là chuyển xây lại, hướng là ngó về, tức là những công đức, thiện căn mà mình đã tu bồi được, nay nguyện hồi hướng về mục đích của mình đã nhắm. Cho nên chữ hồi hướng đối với nhà tu Phật là xoay chuyển công đức hướng về ba chỗ:
1- Chỗ sở chứng chơn như thật tướng.
2- Chỗ sở cầu vô thượng Bồ Đề.
3- Chỗ sở độ tất cả chúng sanh.
Ngoài ra còn hồi hướng công đức cho Cửu Huyền Thất Tổ đặng siêu thăng Tịnh độ. Nhưng chữ
hồi hướng ở đây là ý chỉ xoay chuyển công đức về chỗ vãng sanh Cực lạc. Đức Thầy có câu:
“Đem thân hồi hướng gốc lành,
Làm tôi Phật Tổ chí thành chí chơn”.
(Cho Ông Cò Tàu Hảo) - Pureland Way
It is the method of reciting the six characters “Namo Amitabha Buddha” to return to the 'original pure nature (essence), or rebirth in the Pure Land (form).' This practice was transmitted by Buddha Shakyamuni to introduce the Pure Land and to praise the boundless life and limitless light merits of Amitabha Buddha along with His great vows. From that, the practice of the Pure Land was instructed. The doctrine is contained in three sutras: Amitabha Sutra, Infinite Life Sutra, and Contemplation Sutra of Infinite Life.
About 700 years later, Bodhisattvas Ma Ming, Nagarjuna, and Vasubandhu strongly encouraged people to practice the Pure Land method. Since then, this practice spread throughout Asia, but people practiced it according to their own understanding without forming an organized system. It was not until the Song Dynasty in China that Master Huiyuan, deeply understanding the Pure Land method, gathered various teachers and established the Liancha Society. From that point, this practice flourished among the common people.
After the passing of Master Huiyuan, there were Masters: Shandao, Yuanyuan, Fachao, and Yanshou, who successively promoted the Pure Land practice, causing a strong movement of reciting Buddha's name. Since then, most practitioners at the time of death have had verbal indications of being reborn in the Pure Land. (See the stories of rebirth in the Dao Phap Nghi Van collection).
- thuyết-phương Tịnh-độ
Là phương pháp trì niệm sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” để được trở về với “Bản lai thanh tịnh (tánh), hoặc Vãng sanh Cực lạc (tướng)”. Pháp nầy do Đức Phật Thích Ca truyền ra để giới thiệu cõi Cực lạc và tán dương công đức vô lượng thọ vô lượng quang của Phật A Di Đà cùng nguyện lực lớn lao của Ngài. Nhân đó, khai thị pháp môn Tịnh độ. Tôn chỉ gồm trong ba bộ kinh: Di Đà, Vô Lượng Thọ và Quán Vô Lượng Thọ.
Sau đó chừng 700 năm, Đức Mã Minh Bồ Tát, Long Thọ Bồ Tát và Thế Thân Bồ Tát, cực lực khuyên người tu pháp môn Tịnh độ. Từ đó, Pháp môn nầy được lưu hành khắp Á châu, nhưng tùy theo sở nhận của mỗi người mà tu lấy, chớ không có tổ chức thành hệ thống. Mãi đến đời Tống bên Trung Hoa, có Ngài Huệ Viễn thâm ngộ môn Tịnh độ mới đứng ra tập hợp các Đạo sư, lập thành Hội Liên xá. Bắt đầu từ đó Pháp môn nầy thạnh hành khắp dân gian.
Khi Ngài Huệ Viễn Đại Sư tịch rồi thì có các Ngài: Thiện Đạo Đại Sư, Thừa Viễn Đại Sư, Pháp Chiếu
Đại Sư, Diên Thọ Đại Sư nối nhau hưng truyền Pháp môn Tịnh độ, gây nên phong trào niệm Phật
mạnh mẽ. Từ đó đến nay đa số người tu hành lúc lâm chung đều có thoại ứng vãng sanh về cõi Cực
lạc.(Xem các Mẩu chuyện Vãng sanh trong Đạo pháp Nghi vấn).Chú Giải Sám Giảng (1975)
淨土; S: buddhakṣetra; C: jìngtǔ; J: jōdo; nguyên nghĩa Phạn ngữ là Phật độ, cõi Phật, cõi thanh tịnh;
Trong Ðại thừa, người ta hiểu mỗi cõi Tịnh độ thuộc về một vị Phật và vì có vô số chư Phật nên có vô số Tịnh độ. Ðược nhắc nhở nhiều nhất là cõi Cực lạc (s: sukhāvatī) của Phật A-di-đà (s: amitābha) ở phương Tây. Tịnh độ phía Ðông là cõi Phật Dược Sư (s: bhaiṣajyaguru-buddha), có khi cõi đó được gọi là Ðiều hỉ quốc (s: abhirati) của Phật Bất Ðộng (s: akṣobhya). Phía Nam là cõi của Phật Bảo Sinh (s: ratnasambhava), phía Bắc là cõi của Phật Cổ Âm (s: dundubhisvara). Ðức Phật tương lai Di-lặc (s: maitreya), là vị đang giáo hoá ở cõi Ðâu-suất (s: tuṣita), sẽ tạo một Tịnh độ mới.
Tịnh độ được xem là »hoá thân« của thế giới, là cõi xứ của người tu hành muốn được tái... - darkness and fallacy
IGNORANCE: Sanskrit: Avidya, transliterated as A-vi-di, translated into Chinese as Vô minh. 'Vô' means not; 'minh' means clear, bright. Sentient beings are confused and do not see the true nature of their own wondrous mind clearly, and mistakenly recognize illusions as reality, hence it is called ignorance (delusion).
- vô-minh vọng-tưởng vạy-tà
VÔ MINH: Phạn ngữ: Avidya, phiên âm là A-vĩ-di, Tàu dịch là Vô minh. Vô có nghĩa là không; minh là rõ, sáng. Chúng sanh mê mờ không rõ tâm chơn như diệu minh của mình, trở lại nhận lầm các vọng tưởng nên gọi là vô minh (mê si).
Chính vô minh là mối đầu của Thập nhị Nhân duyên để dẫn từ hành, thức đến sanh tử. Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận có viết:“Mọi pháp trong sạch là chơn như, mọi nhân nhiễm trược gọi là vô minh”. Lại nữa chơn như diệu minh ví như mặt trời, vô minh ví như mây. Đức Thầy viết (trong Khuyến Thiện, Q.5):
“Màn vô minh che mờ căn trí,
Nên thường khi nhận ngụy làm chơn”.
VỌNG TƯỞNG: Móng nghĩ việc sái quấy, tà vạy, không hạp với Đạo lý chánh pháp. Trong Đại Thừa Nghĩa Chương có câu:“Kẻ phàm phu mê tối đối với sự thật, bèn khởi ra các tướng của các pháp, chấp lấy tướng cho là danh, rồi y theo danh mà giữ lấy tướng; bởi chỗ giữ lấy chẳng chơn thật, nên kêu là vọng tưởng”. Và đoạn khác đã nói:“Chấp một cách sai lạc không chơn thật, kêu là vọng.
Đem cái vọng tâm mà giữ lấy điều mình chấp, kêu là tưởng.”(Mậu chấp bất chơn, danh chi vi vọng,
vọng tâm thủ tướng, mục chi vi tưởng)
VẠY TÀ: Cũng viết là tà vạy. Có nghĩa: gian dối cong vẹo, không chơn chánh ngay thẳng.Chú Giải Giáo Lý (1975)
Vô minh là khái niệm quan trọng trong Phật giáo, được xem là nguồn gốc của khổ đau và là rào cản lớn nhất trên con đường giác ngộ.
Chú Giải Sám Giảng (1975)
- Upper Realm
The higher realms, where Buddhas, Saints, Immortals, and Deities reside, are free from injustice and tyranny, their scenery is solemn and pure, and only enlightened beings and those of noble virtue can reach them.
The upper realms, that is, the heavens from the Four Heavenly Kings upwards.
- thượng cảnh
Cõi thượng giới nơi Phật Thánh Tiên Thần ngự trị, nơi khộng có bất công. bạo ngược, cảnh trí ttrang nghiêm, thanh tịnh, mà chỉ có các bậc giác ngộ và đức dộ cao thượng mới đến được.
Cõi trên, tức các cõi trời từ Tứ Thiên Vương trở lên.
- Supreme Beings
This implies the Jade Emperor and Buddhas
- Dragon Domain
The scenery and palace of the Dragon King lie deep at the bottom of the sea. It is a temple created by the divine power of the Dragon King.
- Cõi Long-cung
Cảnh và cung điện của Long Vương ở sâu nơi đáy biển. Đó là đền đài do thần lực của Long Vương tạo hiện ra.
- sarcastic
"Bao" means praise, "Biếm" means criticism. It refers to words of mockery, contempt, or disdain towards others.
- bao-biếm
Bao là khen, biếm là chê. Ý nói lời nhạo chê khinh rẻ người khác.
- dirty minds
Dirty minds: "Condition" refers to the cause or connection, the link from the past that extends to the present between two or more people. "Defilement" refers to accumulated dust and dirt, figuratively representing afflictions.
Severing the connection with defilements means severing all worldly attachments, eliminating all defilements: mistaken perceptions and mistaken thoughts (delusions of view and thought). Only then can one cleanse the defiled mind to attain purity, liberation, or rebirth in the Pure Land.
Notes on the Oracle Vol V , (1975)
- trần-cấu
CẤU: Duyên là duyên do, là mối dây liên lạc từ thời quá khứ, chuyền qua thời hiện tại giữa hai người hoặc nhiều người. Trần cấu là bụi đất đóng dơ, nghĩa bóng là chỉ cho các phiền não.
Dứt duyên trần cấu là dứt hết duyên trần không còn cấu tạo, tức là dứt được các phiền não: thấy lầm, nghĩ lầm (kiến hoặc, tư hoặc). Có như thế mới gọi là rửa sạch tâm trần ô nhiễm để đạt đến thanh tịnh giải thoát hay vãng sanh Cực lạc.Chú Giải Sám Giảng (1975)
- Five Impurities
There Five impurities in the earthly realm that no human being can escape, including: Defilement of Life, Defilement of Views, Defilement of Afflictions, Defilement of Sentient Beings, and Defilement of Fate. In the past, the Buddha said: “The Saha world is a realm of evil and suffering, filled with five kinds of defilements. But because of my vow and compassion, I manifest myself to teach sentient beings about the Pure Land of Amitabha Buddha, so that they may aspire to be reborn there.”
In the Sutra of Infinite Life, the Buddha taught: “Bodhisattvas who cultivate until they become Buddhas do not fall into evil paths (Hell, Hungry Ghosts, Animals), possess supernatural powers, and always remember their previous lives. Except when, due to their vows, they are reborn into the five defiled evil worlds, they manifest themselves like sentient beings in those realms, meaning they do not retain the supernatural powers of past lives, and are subject to the same laws of birth, aging, sickness, and death as sentient beings.”
PREVIOUS LIFE: A life of impurity and uncleanness. Because the lifespan of a human being is reduced to less than 20,000 years, life becomes impure. Each human body is subject to four impurities: Impurity of Views, Impurity of Afflictions, Impurity of Sentient Beings, and Impurity of Life. This is lowly and ugly.
IMPURITY OF VIEWS: Impure perception. In the degenerate age, the wrong views of sentient beings flourish, causing confusion in the world, leading to distorted perceptions, such as mistaking wrong for right, or dirty for clean. There are five distorted perceptions, called the Five Defilements:
1- Self-view: Believing this body to be real.2- Extreme view: One-sided view, such as believing this body will last forever or believing that this body ceases to exist once it dies.
3- Wrong view: A distorted view, not recognizing the truth, not believing in karma and reincarnation.
- Attachment to wrong views: Believing...
- Ngũ-Trược
NGŨ TRƯỢC: Năm điều dơ bẩn ở cõi trần, mà con người chẳng một ai tránh khỏi, gồm có: Kiếp
trược, Kiến trược, Phiền não trược, Chúng sanh trược và Mạng trược. Xưa, Đức Phật từng nói:“Ta bà
là một cõi ác lụy, choán đầy năm thứ trược. Song vì nguyện lực và lòng từ bi nên Ta thị hiện, để giáo
hóa chúng sanh được biết cõi Tịnh Độ của Đức A Di Đà ngõ hầu nguyện sanh về đó”.
Kinh Vô Lượng Thọ, Phật dạy:“Chư Bồ Tát tu mãi đến khi thành Phật không sa vào các lối ác (Địa
ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh), thần thông tự tại, thường nhớ những đời trước của mình. Trừ ra khi nào vì
bổn nguyện sanh vào cõi ngũ trược ác thế thì thị hiện như chúng sanh ở cõi ấy, tức là chẳng giữ phép
thần thông túc mệnh, cũng đồng chịu luật sanh, lão, bịnh, tử như chúng sanh.”KIẾP TRƯỢC: Đời sống dơ bẩn không sạch. Bởi thời gian trong kiếp trụ, con người bị giảm lần tới
hai vạn tuổi trở xuống thì đời sống trở nên dơ bẩn. Mỗi thân con người đều chịu bốn cái trược: Kiến
trược, Phiền não trược, Chúng sanh trược và Mạng trược.
ĐÊ HÈN: Thấp thỏi xấu xa.
KIẾN TRƯỢC: Sự thấy biết dơ bẩn. Thời mạt thế, tà kiến của chúng sanh thạnh khởi, làm hoặc-
loạn thế gian khiến cho sự thấy phải điên đảo, như: thấy tà nhận chánh, thấy dơ nhận sạch. Có năm
cái thấy điên đảo, gọi là Ngũ Lợi Sử:
1-Thân kiến: chấp cái thân nầy có thật.
2-Biên kiến: Cái thấy chấp một bên, như chấp thân nầy còn hoài hay chấp thân nầy một khi chết
là hết.
3-Tà kiến: Cái thấy tà vạy, không nhận ra chơn lý, không tin nhân quả luân hồi.
4-Kiến thủ kiến: Chấp chỗ tà vạy và sự thua kém của mình là hơn người.
5-Giới cấm thủ kiến: Cái thấy chấp những giới cấm phi lý như cho rằng lấy tro bôi mình hay ép xác
hành khổ là được đắc đạo.
THIẾT MƯU KẾ: Bày chước nầy kế nọ.
THẮNG THỐI: Hơn thua cao thấp.
CHƯỞNG: Gieo trồng.
ĐÁP ĐỐI: Đáp qua đối lại bằng lời nói hoặc hành động, không ai chịu thua ai, lòng luôn tính toán,
sắp đặt những gì để đối trả giữa nhau.
PHIỀN NÃO TRƯỢC: Các thứ “hoặc” dơ bẩn, như: Tham, Sân, Si; nó thường làm cho thân tâm
phiền muộn não loạn. Các thứ... - Sa-Ba World’s Master
Writing this, the Master prayed to Shakyamuni Buddha, the founder of Buddhism in the Saha world, asking the Buddha to bear witness to his work of compiling the scriptures to enlighten the community. Therefore, any virtuous men and women who possess the seed of Buddhahood and have a karmic connection with the Dharma should read this book, "Encouraging Goodness," and practice accordingly; they will surely attain enlightenment.
The Saha world refers to the world of the Saha realm. The master of a religion or faith is the one who established a religion or doctrine. This refers to Shakyamuni Buddha, as he is the master of Buddhism in the Saha world.
- Ta-Bà Giáo-Chủ
Viết đến đây, Đức Thầy cầu nguyện với Đức Thích Ca Như Lai, tức là vị Giáo Chủ Phật Giáo trong cõi Ta Bà, xin Phật chứng minh cho công cuộc biên Kinh giác chúng của Ngài. Vậy những thiện nam tín nữ nào, sẵn có hột giống Phật và hữu duyên cùng Đạo pháp, hãy xem quyển Khuyến Thiện và tu hành theo, ắt sẽ chứng thành Đạo quả.
TA BÀ GIÁO CHỦ: Ta Bà tức thế giới Ta bà Giáo chủ là vị sáng lập một nền Đạo hay một Tôn Giáo. Đây chỉ cho Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, bởi Ngài là Giáo chủ Đạo Phật (Phật Giáo) trong cõi Ta bà.
- Tây-phang
Với hai từ Tây Phương cùng một nghĩa, chỉ về thế giời Cực Lạc, đối nghịch lại với thế giới Ta Bà, nơi chứa nhiều đau khổ. Vii365c sử dụng hai từ này rất phổ biến trong thi văn,
- pure mind
While the Venerable Master was still at Cho Quan Hospital, during his free time, with a clear and serene mind, he suddenly felt compassion for all beings struggling in the ocean of worldly suffering. Moved by compassion, he borrowed pen and ink to write this book of teachings. In it, he clearly distinguishes between the two paths of the divine and the worldly, and expounds on methods of practice to awaken sentient beings and help them quickly turn towards goodness.
He explained that those who practice asceticism at home both live by farming and diligently cultivate their spiritual practice, liberating their body and mind. Therefore, their hearts are always pure and tranquil in the face of all worldly things, wealth, beauty, and fame. Although they still have a mortal body like everyone else, they have diligently practiced meditation for a long time, so now their hearts are enlightened, free from all delusion. This is his example of virtue for his followers to follow.
Notes on the Oracle Vol V (1975)
- Băng tâm
Thời gian Đức Giáo Chủ còn ở Nhà thương Chợ Quán, nhân lúc rảnh rang, tâm thần quang tịnh, bỗng nhiên Ngài cảm kích đến chúng sanh đang lăn lộn trong bể trần thống khổ. Động mối từ tâm nên Ngài mượn bút mực viết ra quyển Giảng nầy. Trong đây Ngài phân tách rõ hai đường tiên, tục và luận giảng các phương pháp tu hành hầu giác tỉnh chúng sanh sớm hồi tâm hướng thiện.
-Ngài cho biết người tu hạnh tại gia vừa sanh sống với nghề ruộng rẫy và vừa lo trau giồi đạo hạnh, giải thoát thân tâm. Cho nên lòng Ngài lúc nào cũng thanh tịnh, thản nhiên trước mọi cảnh vật tài sắc vị danh. Tuy còn phải mang thân phàm tục như bao nhiêu người khác, song đã dày công tu niệm từ lâu, nên nay lòng Ngài đã giác ngộ, dứt hết mê lầm. Đây là Ngài nêu gương hạnh cho tín đồ noi theo.Chú giải Sám Giảng (1975)
- Seabed prospecting
Therefore, whoever wishes to inherit such a state must diligently and persistently cultivate their mind and body to achieve perfect purity and enlightenment. Just as a gold prospector must dive into the deep sea, sift through every basketful of mud, gather every fragment, and then melt and refine it to create a solid block of pure, beautiful gold: “Cultivation is like refining sand into gold; it is not an easy task, so do not be discouraged.” (Golden Words in a Dream by Thanh Si)
- kim đáy biển
Vậy ai muốn đặng thừa hưởng cảnh ấy, cần gắng công bền chí tu sửa thân tâm cho được trọn lành trọn sáng. Cũng như kẻ bòn vàng phải lặn xuống biển sâu, đãi từng rổ bùn, lượm từng mảnh vụn rồi đem nấu lọc mới thành khối vàng y, tốt đẹp:“Tu như lọc cát thành vàng, Việc đâu phải dễ chớ toan ngã lòng.”(Lời Vàng Trong Mộng của Thanh Sĩ)
- lão Bành
Cũng gọi là Bành Tổ. Căn cứ theo sách Ấu Học thì Lão Bành sống vào đời Đường Nghiêu (Trung Hoa), tên thật là Tiền Kiên, con của Trưởng Lão Lục Chung. Tương truyền, mẹ ông mang thai 12 năm, hôm nọ bỗng nhiên nứt hông bên hữu sanh ra 6 người con, mà Ông là người thứ ba.
Thuở nhỏ Ông học rất thông minh, lớn lên được Vua Nghiêu phong làm quan trấn giữ đất Bành Thành. Ông sống tới 880 tuổi (cũng có sách chép Bành Tổ sống 800 hoặc 700 tuổi), có 49 người vợ và 54 người con. Do sự sống lâu nên người đương thời gọi Ông là Bành Tổ hay là Lão Bành.
Ông làm quan rất liêm chính, hết lòng giúp đỡ lương dân. Tuy làm quan, song Ông thường tìm nơi thanh tịnh, di dưỡng tánh tình, không hề để cho lợi danh chi phối. Ông phò luôn cả bốn triều vua: Đường, Ngu, Hạ, Thương.
Đức Thầy nhắc chuyện trên, ý muốn nói ở đời mấy ai sống được lâu như Bành Tổ mà mong hưởng danh lợi:
“Mấy ai trăm tuổi ở đời,
Được như Bành Tổ mà rời lợi danh?”
(Viếng Làng Phú An) - Old Banh
Also known as Peng Zu. According to the book "You Xue" (Elementary Learning), Old Peng lived during the Tang Dynasty under Yao (China). His real name was Qian Jian, the son of Elder Lu Zhong. Legend says his mother was pregnant for 12 years, and one day her right hip suddenly ruptured, giving birth to six children, with him being the third.
As a child, he was very intelligent. Later, Emperor Yao appointed him to govern Pengcheng. He lived to be 880 years old (some books say Peng Zu lived 800 or 700 years), had 49 wives and 54 children. Due to his longevity, he was known as Peng Zu or Old Peng.
He was a very upright official, wholeheartedly helping the people. Although he held an official position, he often sought solitude to cultivate his character, never allowing fame or fortune to influence him. He served under four emperors: Tang, Yu, Xia, and Shang.
The Master mentioned the above story, meaning that in this world, few people live as long as Peng Zu and still aspire to fame and fortune:
“How many can match up to Old Banh,
For longevity to hold on to opulence?”(Visiting Phu An Village)
- Southern Peaks
The mountain peak is located in southern Vietnam. This refers to the Thất Sơn region (Châu Đốc).
- Nam-đỉnh
Đỉnh núi ở miền Nam nước Việt Nam. Đây ý chỉ cho miền Thất sơn (Châu Đốc).
- Godly Investiture
That deification was a very fair selection. Heaven and Earth, based on the karma of each living being, punished the wicked and evil, and rewarded those who were filial, loyal, and righteous. “The wicked will be burned by fire, those who practice virtue will live in the ancient times.” (People's Verse, Vol. 2).
Deification is the ceremony of bestowing divine status upon the deceased. According to Chinese and Vietnamese customs, those who knew how to be loyal to the king and love the country are deified after death, such as during the time of the Two Trung Sisters, there were Lady Le Chan and Bat Nan. In the South, there was the time of Thuc An Duong Vuong, there were Lords Lu Trung and Lu Quoc. In modern times, Lord Nguyen Huu Canh was bestowed the title of High-Ranking Meritorious Official. Lord Nguyen Trung Truc was posthumously bestowed the title of High-Ranking Great Minister by Emperor Tu Duc. The Master has now affirmed:
“Born a general, died a god,
This proverb has been passed down to the present day.” And:“Even if one does not transcend, one will become a god.
Thanks to the two words: loyalty to the king and love of the country.”(Awakening from Delusion)
The term "Fengshen" (Investiture of the Gods) used by the Master in this lecture refers to the Investiture of the Gods by Jiang Ziya and Zhou Wuwang (China). During the late Shang Dynasty, the gods and immortals often descended from the mountains to cause trouble for the people, so the Three Religions held a council to select those with less virtue to become gods and saints. Those with sufficient virtue were to become immortals and Buddhas.
Jiang Ziya was ordered to post the Investiture of the Gods list; those with insufficient merit and virtue would have their souls placed there. On the final day, those with sufficient merit and virtue would be guided to the Buddha's realm; those with less virtue would be placed on the Investiture of the Gods list. Ziya assigned...
- Nhan Hoi
Also known as Yan Hui, Yan Zi, or Zi Yuan, he was born in the State of Lu during the Eastern Zhou Dynasty (China), approximately 514-483 BC.
He was a disciple of Confucius, intelligent and studious by nature, able to answer ten questions with just one explanation. He was known for his virtue and never made the same mistake twice. His family was poor, his living quarters cramped, and his diet meager—a basket of rice and a gourd of water. While others would find it unbearable, he remained cheerful and content (contentment brings happiness).
Confucius often said, "Since Yan Hui came, my disciples have become more numerous." He praised him, saying, "He is truly a good person; eating coarse rice, drinking plain water, and living in cramped conditions—others would have become discouraged and disheartened; yet he remained content and happy. He is truly a precious person."
Yan Hui was 29 years old, his hair completely gray, and he died at the age of 31. Confucius was deeply saddened and regretful!
Initially, Yan Hui was listed among the Twelve Sages of Confucianism, but later he was ranked among the Four Associates, succeeding Confucius, and was revered as a Saint.
The Master's mention of Yan Hui's story implies that people born in the Yuan Xia era often died young, just like Yan Hui.
- Nhan-Hồi
Cũng gọi là Nhan Uyên, Nhan Tử hay Tử Uyên, sanh tại nước Lỗ, thời Đông Châu (Tr.Hoa), khoảng 514-483 trước Tây Lịch.
Ông là học trò của Đức Khổng Tử, bản tánh thông minh và hiếu học, hỏi một thì luận ra tới mười. Ông có tiếng là người đức hạnh và không bao giờ ông phạm lỗi hai lần. Nhà Ông nghèo, chỗ ở chật hẹp, ăn uống khắc khổ, một giỏ cơm, một bầu nước lã. Theo như người khác, không ai chịu nổi, nhưng ông vẫn vui vẻ và an phận như thường (tri túc thường lạc).
Khổng Tử thường nói:“Từ ngày có Nhan Hồi, học trò ta càng đông”. Và Ngài từng khen ngợi ông:“Anh ấy thật là người tốt, ăn cơm gạo sô, uống nước lã, ở nơi chật hẹp, nếu là người khác đã ngã lòng thối chí; thế mà vẫn an phận vui vẻ, thật là người đáng quí”.
Năm Nhan Hồi 29 tuổi, tóc đã bạc hết và ông mất vào năm 31 tuổi. Đức Khổng Tử vô cùng thương xót, tiếc than !
Lúc đầu Nhan Hồi được liệt vào hàng Thập nhị hiền triết trong Nho giáo, nhưng sau đặng xếp vào bậc Tứ Phối, kế Đức Khổng Tử và được tôn làm Phục Thánh.
Đức Giáo Chủ nhắc tích Nhan Hồi là ý nói con người sanh thời Nguơn Hạ hay bị chết lúc còn trẻ như Nhan Hồi vậy. - cuộc Phong-Thần
Cuộc phong thần ấy là một sự tuyển chọn rất công minh. Trời đất căn cứ vào nghiệp nhân của mỗi chúng sanh mà trừng trị kẻ tà gian hung ác, và ban thưởng cho những ai vẹn lòng hiếu trung tiết nghĩa “Kẻ tà gian sau bị lửa thiêu, Người tu niệm sống đời thượng cổ.”(Kệ Dân, Q.2).
PHONG THẦN là lễ tấn phong những người chết được làm Thần Thánh. Theo phong tục người Tàu và nước Nam ta, hễ người biết trung quân ái quốc, sau khi chết được Phong Thần, như thời hai Bà Trưng có bà Lê Chân và Bát Nàn. Nam thì có thời Thục An Dương Vương có Ngài Lỗ Trung và Lỗ Quốc. Thời cận đại có Ngài Nguyễn Hữu Cảnh được phong là Thượng Đẳng Công Thần. Ngài Nguyễn Trung Trực được vua Tự Đức truy phong là Thượng Đẳng Đại Thần. Đức Thầy hiện nay đã xác định:
“Sanh vi tướng, tử vi thần,
Câu châm ngôn ấy truyền lần đến nay”. Và:
“Dầu không siêu cũng đặng về Thần.
Nhờ hai chữ trung quân ái quốc”.
(Giác Mê Tâm Kệ)
Chữ Phong Thần Đức Thầy dùng trong bài giảng nầy là nói cuộc Phong Thần của Khương Thượng Tử Nha và Châu Võ Vương (Trung Hoa). Đời mạt Thương các Thần Tiên hay xuống núi phá khuấy dân chúng nên Tam Giáo mở hội chọn lọc những Tiên gia kém đức được làm Thần Thánh. Còn những ai đầy đủ đức hạnh cho thành Tiên Phật.
Khương Tử Nha được lịnh treo bảng Phong Thần, ai kém phước chết linh hồn vào đó. Đến ngày kết cuộc ai phước đức đầy đủ thì được tiếp dẫn vâng lịnh Đức Phật Tổ tiếp độ về cõi Phật; ai kém đức vào Bảng Phong Thần. Tử Nha cắt đặt trấn giữ mỗi nơi. Ai còn sống có công trận và trung quân ái quốc thì được Châu Võ Vương chia đất, phong Vương, chia ra tới 800 chư hầu.
Cuộc Phong Thần nầy Đức Thầy thường nhắc đến:“Nên thuở xưa Trời sắp cuộc Phong Thần,
Diệt kẻ quấy lọc lừa dân lương thiện”.(Không Buồn Ngủ)
Notes on the Oracles (1975)
- The Tao knowledgeable
Those who have studied Buddhist doctrines, either through self-study or by attending lectures by monks, understand the Dharma. In this sense, the expectation of someone who understands the Dharma is not limited to theoretical knowledge; they must also have practical experience. Even those who are knowledgeable in doctrine but have extensive practical experience are more respected. Buddhism is a religion that advocates practice, not a philosophical system for those who merely display their knowledge. Such individuals cannot be considered true practitioners. Two exemplary figures in Buddhist history are often compared: the Sixth Patriarch Huineng and Master Shenxiu.
The Master said of Patriarch Huineng:
"The Sixth Patriarch is unmatched,
A simple man who spoke the Dharma with such clarity.Why bother with lofty learning and study?
To know and understand is to encounter the Dharma."
Therefore, practitioners who wish to see their true nature must reflect it in their minds clearly and subtly, without allowing any habitual causes or tendencies to haunt them. Only by maintaining this state of mind can they suddenly perceive their true nature. At that time, they will see themselves in perfect clarity, free and unhindered, no longer bound or constrained by the illusory nature of ignorance. The Master taught:
“Cultivate and refine the mind to be clear,
The true nature will become like a mirror, polished to perfection.”(Prophecy and Teachings, Vol. 3)
- Kẻ hiểu Đạo
Người có học qua giáo lý, hoăc tự mình tìm hiểu hay tham dự các buổi thuyết giảng của tăng sĩ mà hiểu được Phật Pháp. Trong ý nghĩa cụa cụm từ này, kỳ vọng nơi người hiểu đạo không chỉ giới hạn ở chỗ hiểu biết lý thuyết về đạo là phải có kinh nghiệm hành đạo vì người hành đạo tuy thông thuộc giáo lý, nhưng có nhiều kinh nghiệm thực hành, thì vẫn có nhiều người kính ngưỡng hơn. Phật giáo là một tôn giáo chủ trương thực hành chứ không phải một hệ thống triết học để người biết đem ra phô diễn. vì người như vậy thì không thể thuộc vào loại người hiểu đạo. Người ta thường so sánh hai nhân vật điển hình trong lịch sử Phật giáo là đức Lục Tồ Huệ Năng và ngài Thần Tú.
Đức Thầy nói về ngài Huệ Năng như sau:
"Đức Lục-Tổ ít ai dám sánh,
Người dốt mà nói pháp quá rành.
Lựa làm chi cao chữ học hành,Biết tỏ ngộ ấy là gặp Đạo."
Vậy hành giả muốn thấy được tự tánh cần phải phản chiếu nơi tâm một cách rõ ràng vi tế, không
để một nhân duyên tập khí nào ám ảnh, và lòng cứ luôn như thế, mới hoát nhiên trực kiến được bản
tánh. Lúc ấy ta sẽ tự thấy viên minh, tự tại vô ngại, không còn bị trói trăn câu thúc, trong lẽ hư vọng
vô minh. Đúc Thầy có dạy:
“Tu rèn tâm trí cho minh,
Tánh kia thành kiếng phỉ tình chùi lau”. (Sấm Giảng, Q.3) - Tìm đạo-lý
Lý lẽ của Đạo hay Giáo lý của một tôn giáo. Riêng chữ Đạo có ba nghĩa:
1.-Đạo: là con đường của tâm hồn: Hễ lúc sống, thân tâm tạo nghiệp nào thì khi chết nghiệp lực ấy húc thác sanh về cảnh giới đó: lục phàm hay tứ thánh. (Lục phàm là 6 đường phàm: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, Thần A-tu-la, Người, Trời; tứ thánh là 4 đường thánh: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật).
Cũng thế, Đức Thầy bảo:
“Cái chữ tâm mà quỷ hay ma,
Tiên hay Phật cũng là tại nó”.
(Giác Mê Tâm Kệ, Q.4)
Hoặc là:
“Đạo là vốn thiệt cái đàng,
Ta ra sức dọn cho toàn chúng sanh”.
(Sấm Giảng, Q.3)
2.- Đạo là bổn phận, là lẽ phải: Hễ ta đứng vào địa vị nào đều có bổn phận trong địa vị ấy và phải cư xử cho trọn vẹn. Đức Thầy dạy:
“Đạo tôi chúa chặt gìn câu chung thỉ,
Đạo thầy trò khắc cốt với ghi xương.
Đạo cha con chặt chẽ chữ miên trường,
Đạo chồng vợ thuận hòa cho đến thác.
Biết lễ nghĩa kính yêu cùng cô bác,
Nội tông cùng ngoại tổ với cậu dì.
Thêm kính nhường anh chị kẻ cố tri
Mắt chẳng thấy lũ gian phi xảo trá.
Đạo bè bạn bất phân nhân với ngã3.- Đạo là bản thể tuyệt đối: Lý nầy là lìa cả danh ngôn sắc tướng, chỉ tạm gượng kêu là Đạo và gượng giải mà thôi.
Đức Lão tử đã bảo:
“Đạo khả đạo, phi thường đạo,
Danh khả danh, phi thường danh.”
(Đạo mà có thể nói ra được thì không phải là đạo chơn thường; và dùng tên mà gọi cũng không phải là danh chơn thường).
Ngài Khổng Tử cũng dạy:
“Đạo bất khả viễn nhân,
Nhân tri vi Đạo,
Nhi viễn nhân,
Bất khả dĩ vi Đạo”.
(Đạo không xa bản tánh của con người, nếu theo Đạo mà để xa bản tánh thì chẳng phải là Đạo vậy). Còn Kinh Phật dạy rằng:“Đạo giả vô chung thỉ,
Minh minh hà xứ tầm,
Thanh tịnh vô vi pháp,
Chánh đạo ẩn chơn tâm”.
Tạm dịch:
“Đạo vốn chẳng đầu đuôi sau trước,
Khắp muôn
Tự nhiên tánh đạo hiện mà nơi tâm”.
Tóm lại, chữ Đạo rất vô vi mà cũng rất linh hoạt sáng mầu, cho nên nó có cả tướng, dụng và thể:
-Có mà không là Tướng của Đạo.
-Không mà có là Dụng của Đạo.
-Không mà chẳng không là Thể của ĐạoLÝ: là Giáo lý, là lời lẽ luận giải các...
- Human Way
The moral principles of humanity and the logic of human ethics, that is, the way of being human, include the "Five Relationships, Five Virtues, and Three Obediences, Four Virtues." Living according to these principles means fulfilling the duties of being human. Mencius said: "Internally, there is the father-son relationship; externally, there is the ruler-subject relationship; these are the great principles of human conduct."
In the Prophetic Teachings, Volume 3, the Master also taught:
"There are the Four Gratitudes,
One must repay them in this life."
It is also written as human ethics, that is, the way of being human. People in this world must treat each other with
righteousness and humanity. There are the Five Relationships, the Five Virtues; Women have the Three Obediences and Four Virtues. (- The Five Relationships: Ruler-Subject,
Father-Son, Husband-Wife, Siblings, Friends. - The Five Constant Virtues: Benevolence, Righteousness, Propriety, Wisdom, Trust. - The Three Obediences: Obedience to husband, obedience to father, obedience to son. - The Four Virtues: Diligence, Speech, Appearance, Conduct.)Notes on Oracles (1975)
- đạo làm người
Cái nguyên lý Đạo đức của con người và lý lẽ của Đạo Nhân luân, tức là đạo làm người, gồm có “Ngũ Luân, Ngũ Thường và Tam Tùng, Tứ Đức”. Ăn ở đúng theo luân lý tức là đối xử cho tròn cái đạo làm người. Ngài Mạnh Tử bảo:“Nội tắc phụ tử, ngoại tắc Quân thần; nhân chi đại luân giả”.(Bên trong thì đạo cha con, bên ngoài là đạo vua tôi, đó là giềng mối lớn của đạo làm người).
Trong Sấm Giảng Q.3, Đức Thầy cũng dạy:
“Nào là luân lý Tứ ân,
Phải lo đền đáp xác thân mới còn”.Cũng viết là nhân đạo, tức là đạo làm người. Người ở đời phải đối xử với nhau cho
tròn nhân nghĩa. Nam có Ngũ Luân, Ngũ Thường; Nữ có Tam Tùng, Tứ Đức.(- Ngũ Luân: Quân thần,
Phụ tử, Phu phụ, Huynh đệ, Bằng hữu. – Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. – Tam tùng: Tùng
phu, Tùng phụ, Tùng tử. – Tứ đức: Công, Ngôn, Dung, Hạnh.)Chú Giảo Sám Giảng (1975)
- Southerners
People living in the South called "Nam-Phương", meaning the South direction, this refers to Vietnam. It also refers to the Southern Continent of Jambudvipa, one of the four great continents in the Sahā world.
The Master once said:
"The central realm revolves towards the South,
Opening the Investiture to choose loyal and virtuous people."(The Wonderful Dharma of Luminous Light)
Because the cycle of reincarnation in Vietnam will aim for the center of the globe: "The central realm revolves in the South, Opening the holy assembly to choose loyal and virtuous people" (The Wonderful Dharma of Light), so later and here there will be: "Buddhas, Immortals, and Saints bringing peace and stability to the nation"? (No Sleepy) and:
"On Long-Hoa investiture, Holy Spirits down Sahā world,
Select good people and destroy demons."(Awakening a Female Believer in Bac Lieu)
Precious jewels, referring to the seven treasures: gold, silver, lapis lazuli, mother-of-pearl, coral, agate, coral, and amber. The Master said: "The treasures of the South are precious jewels and pearls" (To the True Land of the North). And:
"The South shines with dazzling jewels,
Lapis lazuli and amber adorn many castles."(Spring and Summer Mad Poems)
Notes on the Oracle Vol. IV (1975)
The Sahā world (Sanskrit: sahāloka or sahālokadhātu) is a Mahayana Buddhist term for the mundane earthly realm, often translated as the "world of endurance". It refers to this world of suffering, where beings must patiently endure the cycle of birth, death, and evil, and is the arena where Śākyamuni Buddha teaches the Dharma
- Nam-phương
Cũng gọi là phương Nam. Có nghĩa là hướng Nam, đây ám chỉ nước Việt Nam.
Cũng có nghĩa cõi Nam Diêm Phù Đề, tức Nam Thiệm Bộ Châu, một trong 4 châu lớn ở cõi Ta bà. Đức Thầy từng cho biết:
“Cõi trung ương luân chuyển phương Nam,
Mở hội Thánh chọn người trung hiếu”.
(Diệu Pháp Quang Minh)Bởi cơ luân chuyển Việt Nam sẽ nhằm trung tâm điểm của quả địa cầu: “Cõi trung ương luân chuyển phương Nam, Mở hội thánh chọn người trung hiếu”(Diệu Pháp Quang Minh) nên sau nầy và nơi đây sẽ có: “Phật, Tiên, Thánh an bang cùng định quốc”? (Không Buồn Ngủ) và:
“Long Hoa Tiên Phật đáo Ta bà,
Lừa lọc con lành diệt quỉ ma”.
(Thức Tỉnh Một Nữ Tín Đồ Ở Bạc Liêu)Ngọc ngà châu báu, chỉ cho thất bảo (bảy báu): Vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, xích châu, mã não, san hô, hổ phách. Đức Thầy có câu:“Nam thiên báu ngọc châu trân”( Để Chơn Đất Bắc). Và:
“Phương Nam rạng ngọc chói lòa,
Lưu ly hổ phách mấy tòa đài cung”.
(Xuân Hạ Tác Cuồng Thơ)Chú Giải Sám Giảng (1975)
- Stanza
However, no matter how simple it is, a set of the Sấm Kinh only has about 500 pages yet summarizes the entire "forest of sutras" of all Buddhas and saints, so the content must inevitably be concise and condensed. Moreover, in terms of form, even simple words cannot avoid the need to use classical allusions, literary references, Chinese, Buddhist terminology, dialects, etc., to express ideas. These are the reasons why practitioners sometimes find it difficult to understand without compiling and reference tools.
The late compiler Thiện Tâm was a follower of PGHH, a lifelong practicing monk, and an instructor in the Propagation Department of Tây An Ancient Temple and the General Education Department of the Central Committee of Hòa Hảo Buddhism before 1975. He recognized the necessity of a Commentary on the Sấm Giảng Thi Văn to help believers overcome the above obstacles, so he voluntarily took on this difficult task.
- Kệ
Tuy nhiên, dù cố giản dị đến đâu, một bộ Sấm Kinh chỉ vỏn vẹn khoảng 500 trang mà tóm lược cả
“rừng kinh kệ” của chư Phật Thánh thì nội dung tất phải hàm súc cô đọng. Hơn nữa, về hình thức, lời lẽ
có bình dị cũng không tránh khỏi việc cần sử dụng điển tích, điển văn, Hán ngữ, dụng ngữ Phật pháp,
phương ngữ, …để diễn đạt tư tưởng. Đó là các lý do khiến người tu học đôi khi không dễ hiểu nếu thiếu
phương tiện sưu tầm tra cứu.
Cố soạn giả Thiện Tâm là một tín đồ PGHH, một tu sĩ cả đời xả thân tu học, một giảng viên trong Ban
Hoằng Pháp chùa Tây An Cổ Tự và Ban Phổ Thông Giáo Lý Giáo Hội Trung Ương Phật Giáo Hòa Hảo
trước năm 1975. Ông nhận thức sự cần thiết của một bộ Chú Giải Sấm Giảng Thi Văn để giúp chư tín
hữu khắc phục các trở ngại nói trên nên đã tự nguyện đứng ra làm công tác khó khăn nầy. - Lord Buddha
Suchness Buddha, Sanskrit: Tathâgatha, translated into Chinese as Ru Lai. It is originally one of the ten titles of the Buddha: Ru Lai, Ying Gong, Zheng Bian Zhi, Ming Xing Fu, Shan Shi, Shi Jian Jie, Wu Shang Shi, Diao Yu Zhang Fu, Tian Ren Shi, Buddha. It means: Being thus, neither arising from anywhere nor going anywhere, relying on the true Dharma to attain perfect enlightenment, that is the true body of the Ru Lai. Relying on the true Dharma to come to the three realms to teach sentient beings is called the emanation body of the Ru Lai. The Diamond Sutra says: 'The Tathâgatha comes from nowhere and goes nowhere; therefore he is called Tathâgatha.' (The Tathâgatha neither comes from anywhere nor goes anywhere; yet he is everywhere, therefore he is called Tathâgatha). Here, Ru Lai refers to Gautama Buddha. The Master wrote: 'Namo Gautama Tathâgatha, I, the Teacher of the Saha World, ask for Your guidance.'
- Phật Như-Lai
Phạn ngữ: Tathâgatha, Tàu dịch là Như Lai. Vốn là một trong 10 danh hiệu của Phật: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế gian giải, Vô Thượng sĩ, Điều ngự Trượng phu, Thiên Nhơn Sư, Phật). Có nghĩa: sừng sựng vậy, không từ đâu mà lại, cũng không từ đâu mà đi, nương theo đạo chơn như mà thành bực chánh giác, đó là chơn thân của Như Lai. Nương theo Đạo chơn như đến ba cõi để giáo hóa chúng sanh gọi là ứng thân của Như Lai. Kinh Kim Cang có câu:“Như Lai vô sở tòng lai, diệc vô sở khứ; cố danh Như Lai”(Như Lai chẳng từ chỗ nào mà lại và cũng không từ nơi nào mà đi; nhưng đâu đâu cũng có, nên gọi là Như Lai). Như Lai ở đây chỉ cho Đức Phật Thích Ca. Đức Thầy có viết:
“Nam mô Thích Ca Như Lai,
Ta Bà Giáo Chủ xin Ngài chứng minh”(Kh/Thiện Q.5). - người Thượng-Cổ
Người thời xưa. Đây chỉ cho Tổ tiên ta, những người đã sản sanh ra giống Tiên Rồng Việt Nam.
- Sa-Ba world
Also called Saha, in Sanskrit SaHa. Meaning: Forbearance, great forbearance. Because sentient beings in this realm endure all kinds of suffering, which is exactly the realm we are in.
The Buddhist scripture says: 'Saha is suffering, who can count the suffering of Saha?' The Master also said: 'Saha is suffering, Saha has many sufferings, how many people can examine them thoroughly?' (Q.V)
- Cõi ta-bà
Còn gọi là Sabà, Phạn ngữ SaHa. Dịch ngĩa: Kham nhẫn, đại nhẫn. Bởi chúng sanh ở cõi nầy
kham chịu mọi điều thống khổ, tức là cõi chúng ta đang ở.
Kinh Phật có câu: “Ta bà khổ, Ta bà chi khổ, thùy năng sổ”. Đức Thầy cũng cho biết:
“Ta bà khổ, Ta bà lắm khổ,
Có bao người xét cho tột chỗ”. (Q.V) - Thượng-Đế
Vua cõi Trời. Chỉ cho Ngọc Hoàng Thượng Đế.
- Jade Crescent
NGOC KHUYET TEMPLE: A temple in the upper realm (heavenly realm) where the Jade Emperor resides.
Moreover, at Ngoc Khuyet Temple, the Jade Emperor feels compassion for sentient beings in the earthly realm. Because suffering is imminent, they continue to chase after outwardly flashy beauty: worrying about decorating themselves with pure gold, makeup, fine silks… instead of early turning their minds toward goodness, to cultivate virtuous knowledge, refine their moral hearts, so that later they may escape suffering and be close to the Immortal Buddhas.
- đền Ngọc-Khuyết
ĐỀN NGỌC KHUYẾT: Một cái đền ở thượng giới (cõi Trời) của Đức Ngọc Đế ngự.
Lại nữa, nơi đền Ngọc Khuyết, Đức Ngọc Đế xót thương cho chúng sanh trong cõi trần. Bởi việc khổ sắp kề bên mà họ mãi chạy theo cái đẹp hào nhoáng bên ngoài: lo trang sức vàng ròng son phấn, ăn dọn lụa là…chớ không sớm hồi tâm hướng thiện, để lo tu sửa trí lành, giồi mài tâm đức, hầu sau nầy được thoát qua tai khổ và dựa kề Tiên Phật.
- Lão-Sĩ
Lão là bậc già cả, Sĩ là nhà tu hành chứng đạo. Tiếng tôn trọng bậc tu hành cao tuổi và đầy đủ hạnh đức. Đây là một trong nhiều danh xưng của Đức Thầy:“Lánh thế chẳng bày danh Lão sĩ”(bài Cho Ô. Tham Tá Ngà).
- Tao Preacher,
The old man is an elder, the scholar is a practitioner who has attained the Way. It is a term of respect for an elder practitioner who is full of virtue. This is one of the many titles of the Master. (To the Attaché Ngà)
- roosters fed on dirty mill morsels
CHICKEN PECKING A DIRTY MILL: The chicken pecks around the rice mill (hand mill), and when it goes around, it meets its own head again. This means that a person who does evil will sooner or later be repaid with their own misdeeds (evil begets evil). Term details.
- Emptiness
Form and emptiness are fundamentally the same essence, like waves and water. Thus, the phrase “seeking the word of form and emptiness” refers to realizing the “true nature of one’s own original reality.” The Master once taught: “Only by seeking the void can one truly have” (Folk Verses, Vol. 2) and: “Form is emptiness, emptiness is form, do not separate them” (Awakened Friends in the Mortal World)
- Sangha
The Sanskrit term is Samgha. 'Sangha' is the abbreviated pronunciation, fully spoken as 'Sangha' (samgha). It refers to a group of monks (Bhikkhus) united together into a community, living with the spirit of the six harmonies. 'Chúng' is the Chinese character, meaning a large number of people (community of monks). Therefore, 'chúng tăng' consists of two words: Sanskrit and Chinese have the same meaning, combined to refer to the Bhikkhus in a temple or a Buddhist community.
Explanatory Notes on Vinaya Lecture (1975)
- chúng tăng
Phạn ngữ là Samgha. Tăng là tiếng đọc tắt, nói cho đủ là Tăng già (samgha). Tức là một số đông nhà sư (Tỳ-kheo) hòa hợp nhau thành một đoàn thể, sống với tinh thần lục hòa. Chúng là chữ Hán, dịch nghĩa là đông người (chúng tăng). Vậy chúng tăng là hai tiếng: Phạn và Hán đồng nghĩa, ghép lại dùng để gọi chư Tỳ-kheo ở một ngôi chùa hay một Giáo hội đạo Phật.
Bởi nhận thấy có số người tu Phật, mãi đua theo hình tướng, tạo chùa, đúc tượng, cúng kiếng chè xôi…khiến cho người đời chán chê xa lánh và Đạo Phật do đó càng lúc càng suy yếu. Đức Thầy kêu gọi họ hãy tu theo Chánh pháp vô vi mới đúng chân lý. Vì rằng Phật chẳng hề dùng các món: chè xôi, bánh trái, hoặc tiền của. Chỉ vì chúng tăng làm sai chơn lý mới bày ra cúng kiếng nầy nọ để thọ hưởng vật thực đó mà thôi.
-Ở đời có lắm kẻ gian tham, bỏn sẻn, ỷ mình giàu có, chẳng thương xót một ai, cứ đem tiền của vật thực đến chùa mướn người cầu siêu, lễ bái. Họ tin lầm rằng làm như vậy sẽ trừ hết tôi lỗi, khỏi cần phải tu. Họ có ngờ đâu:
“Phật chẳng qua dụng chữ tín thành,
Chớ nào dụng hương, đăng, trà, quả”.Chú Giải Sám Giảng (1975)
- joss papers
It is often seen during vegetarian ceremonies at temples that the masters make offerings, display banners and towers of prayer papers, offer seeds, offer paper horses, and so on… All of these are then burned, with the claim that the number of horse seeds on the paper will be carried to the West to report to Buddha, while the other items are for the deceased to use. Upon examination, these matters are very strange and superstitious, so the Master has warned many times, yet there are still people who refuse to completely abandon them.
- xá-mã
Thường thấy nghi tiết trong cuộc làm chay ở các chùa, các ông thầy nhưn bông, bày ra sớ phướn lầu kho, xá hạt, xá ngựa.v.v…Tất cả đều đem đốt rồi nói rằng: số hạt ngựa bằng giấy đó sẽ mang số phướn về Tây Phương tâu với Phật, còn các vật kia thì để cho người chết xài. Xét ra những sự việc ấy rất kỳ hoặc, mê tín, nên Đức Thầy đã cảnh tỉnh nhiều lần, thế mà còn số người chưa chịu bỏ dứt.
- Foreign siege
"Bố" is slang, meaning a embargo/siege; "thiết" means to tighten. This refers to foreign goods being sold at increasingly high prices, becoming too expensive to squeeze our people. The Master once said:
"Poor rice is a local product,
High-priced goods are from foreign countries."
- bố-thiết
Bố là tiếng lóng, ý nói khủng bố bao vây; thiết là siết chặt. Đây chỉ cho ngoại quốc bán hàng hóa càng ngày càng tăng giá cao, quá đắc đỏ để siết chặt dân ta. Đức Thầy từng nói:
“Gạo lúa kém là đồ sản thổ,
Hàng hóa cao, ấy của ngoại bang vào”. - Four Ghosts
Refers to the "Four Evils" (alcohol, lust, wealth, and power). They are called demons because these four things cause suffering and attachment to sentient beings. (See also the note on "Four Evils")
- bốn ma
Chỉ cho “Tứ đổ tường” (tửu, sắc, tài, khí). Sở dĩ gọi nó là ma, vì bốn món ấy làm cho chúng sanh đam mê khổ sở (Xem thêm chú thích “tứ đổ tường“
- nghiệp-chướng
Nghiệp là hành động của: thân, khẩu, ý gây tạo. Chướng là ngăn che, trở ngại.
Theo Kinh xưa, mỗi chúng sanh đều có ba nghiệp chướng: Phiền não chướng, Nhân chướng và Báo chướng. Phát xuất từ phiền não chướng (tham, sân, si) dấy lên, con người mới tạo nghiệp tức là nhân chướng, rồi bị cái báo chướng trả lại. Cứ thế mà vay trả lên xuống mãi trong sáu đường sanh tử.
Còn thời nay, Đức Thầy dạy: Mỗi người đều có ba nghiệp chướng, trong bài “Luận về Tam nghiệp”:
–Thân nghiệp (tội lỗi do xác thân gây nên);
–Khẩu nghiệp (tội lỗi do miệng lưỡi gây nên);
–Ý nghiệp (tội lỗi do ý tưởng gây nên).
Trước tiên, phát xuất từ ý nghiệp (tham, sân, si) mới phát ra ngôn ngữ (tức khẩu nghiệp: lưỡng thiệt, ỷ ngôn, ác khẩu, vọng ngữ) và hành động (tức thân nghiệp: sát sanh, đạo tặc, tà dâm). Ba nghiệp ấy cứ tiếp nối nhau luôn, tạo thành sức mạnh lôi kéo chúng sanh, sau khi chết phải luân hồi qua kiếp khác, rồi kiếp khác nữa…khó mà thoát ly ra được.
Trong bài “Lời Khuyên Bổn Đạo” Đức Thầy có dạy:“Trong khi các trò còn ở trong biển mê sông khổ, thường bị những chướng nghiệp nhiều đời mà làm cho linh hồn chìm đắm trong ba cõi sáu đường, xuống xuống lên lên luân hối chuyển kiếp”( tr. 449 SGTVTB 2004 )Chú Giải Sám Giảng (1975)
- bad karma
Karma is the actions of body, speech, and mind. Obstacles are hindrances or obstacles.
According to ancient scriptures, every sentient being has three karmic obstacles: afflictive obstacles, causal obstacles, and karmic retribution obstacles. Arising from afflictive obstacles (greed, anger, and delusion), people create karma, which is the causal obstacle, and then suffer the retribution obstacle in return. This cycle of borrowing and repaying continues endlessly in the six realms of birth and death.
Modern times, however, the Master teaches that each person has three karmic obstacles, in the treatise "On the Three Karmas":
– Bodily karma (sins caused by the physical body);
– Verbal karma (sins caused by the tongue);
– Mental karma (sins caused by thoughts).
First, arising from mental karma (greed, anger, and delusion) is speech (i.e., verbal karma: divisive speech, abusive speech, false speech) and actions (i.e., bodily karma: killing, stealing, adultery). These three karmic actions follow one another continuously, creating a powerful force that drags sentient beings, causing them to be reborn into one life after another after death… making escape difficult.
In the article "Advice to the Disciples," the Master taught: "While you are still in the ocean of delusion and suffering, you are often burdened by karmic obstacles from many lifetimes, causing your souls to sink in the three realms and six paths, rising and falling in cycles of reincarnation and transmigration." (p. 449 SGTVTB 2004)
Notes on Oracles (1975)
- Six Paths
A being beyond the mundane, possessing boundless wisdom, miraculous power, and unobstructed understanding. Such a being is often respected and revered by the common people. Therefore, people also refer to deities as: Brahma, Indra, and the Buddha. Thus, there are four levels of deities: Buddha-deities, Immortal-deities, Saint-deities, and Asura-deities (Demon-deities); but the word "deity" here refers to the Buddha-deities or Immortal-deities. The Master wrote: "The father is a Buddha, Saint, Immortal, or God, overflowing with blessings" (from the poem "A Reflection" Cảm Tác).
Oracular Notes ̣1975
Beyond the worldly realm, a higher level of understanding:
All sentient beings are born, live, and die; they are dependent on karma and its consequences to become sentient beings in the present.
Reincarnation is a form of manifestation of the phenomenon of birth and death of phenomena through the principle of dependent origination from cause to effect. From this, karmic force is the active power that forms the birth, death, transformation, and circulation, manifested through the past, present, and future over time, depending on the attributes of each individual and the community (individual karma and collective karma), and depending on the speed, strength, and weakness of the karmic agents created by body, speech, and mind, stemming from the three poisons of greed, hatred, and delusion arising from ignorance in our past, present, or future, and circulating accordingly. Therefore, reincarnation arises and exists depending on the power of karmic causes created by each of our actions, and accordingly, we transform from one place to another, from one realm to another, within the three realms and six paths, to receive the karmic consequences of our past actions.
- Sáu Đường
Bậc khác hơn thế tục, lượng xét không cùng tột, linh diệu, oai mãnh, thông suốt, không bị chướng ngại. Là bực bá tánh thường tôn trọng kính nhờ. Cho nên người ta cũng chỉ Thần là : đấng Phạm Thiên, Đế Thích và Đức Phật. Vậy, Thần có bốn bực: Phật Thần, Tiên Thần, Thánh Thần và A Tu La Thần (Quỉ thần); nhưng chữ Thần ở đây là chỉ cho bậc Phật Thần hay Tiên Thần. Đức Thầy có viết:“Cha là Phật, Thánh, Tiên, Thần phước dư” (bài Cảm Tác).
Tất cả mọi sinh mệnh hữu tình sinh ra sống còn và chết đi, chúng bị lệ thuộc vào nghiệp nhân và nghiệp quả để trở thành một sinh mệnh hữu tình trong hiện tại.
Luân hồi là một hình thức biểu hiện hiện tượng sinh diệt của các pháp qua định thức duyên khởi từ nhân đến quả. Từ đó nghiệp lực là sức mạnh chủ động hình thành sự sinh diệt biến đổi lưu chuyển được thể hiện qua quá khứ-hiện tại và tương lai theo thời gian, tuỳ thuộc vào từng thuộc tính của mỗi cá nhân và Cộng đồng xứ sở (biệt nghiệp và cộng nghiệp) và tùy thuộc vào sức nhanh chậm, mạnh yếu của tác nhân nghiệp đã được tạo ra bỡi thân-khẩu-ý do ba độc tham-sân-si từ vô minh phát khởi của chúng ta trong quá khứ, trong hiện tại, hay trong tương lai mà luân chuyển theo chúng. Vậy luân hồi có được và hiện hữu tuỳ thuộc vào lực dụng của nghiệp nhân đã được tạo ra từ hành vi của mỗi chúng ta và, theo đó mà biến chuyển từ nơi này sang nơi khác, từ cõi này sang cõi nọ, trong ba cõi sáu đường để nhận lãnh báo thọ quả mà mình đã tạo ra trước đó.
- Purify Six Sense Organs
The duty of a practitioner is to diligently cultivate their body and refine their character, regardless of ridicule or slander. Above all, they must master the six senses, preventing them from being defiled by the six objects of perception. Their eyes should not be affected by beautiful sights or colors. Their ears should not be captivated by the sounds of music, melodies, or sweet, soothing words. Their noses should not be drawn to pleasant fragrances. Their tongues should not crave delicious flavors or rich foods. Their bodies should not be affected by smooth, soft objects. Their minds should remain pure in relation to all phenomena, both visible and invisible, without being entangled in any of them.
-Those who practice the Dharma should emulate the sages and saints. Although they may still need some material things to sustain their bodies and practice the Dharma, their minds should not be defiled or entangled by the six objects of perception. This is when the six senses are purified and they attain Buddhahood or divinity. Even if subtle afflictions are not completely eradicated, they can still reach the level of immortals and deities. The Master also stated: throughout history, He has repeatedly used the scriptures to teach sentient beings, but few have bothered to cultivate virtue and establish a virtuous conduct.
Notes on The Oracles (1975)
- đừng nhiễm
-Bổn phận người tu cứ lo trau thân sửa tánh, dầu cho ai có nhạo chê phỉ báng cũng mặc, nhứt là phải làm chủ sáu căn, đừng cho ô nhiễm sáu trần. Mắt đối với các sắc đẹp hay các màu sắc khác, chẳng để tâm cảm nhiễm. Tai nghe các tiếng đờn hát, âm thanh trầm bổng, những tiếng đường mật vỗ về, lòng không để say đắm. Mũi ngửi các mùi thơm dịu không ưa thích. Lưỡi nếm những vị ngon, vật béo chẳng thèm khát. Thân đối với các vật trơn láng mịn màng cũng đừng cảm nhiễm. Ý đối vạn pháp hữu hình hay vô hình đều giữ tâm trong sạch, không hề vướng mắc một pháp nào.
-Người hành đạo hãy noi gương những bậc Hiền Thánh. Tuy còn phải dùng chút ít vật chất, để nuôi thân hành đạo nhưng tâm không còn ô nhiễm, vướng mắc sáu trần. Ấy là sáu căn được thanh tịnh và đặng chứng quả Phật Thần, bằng như các phiền não vi tế chưa trừ sạch cũng được về bực Tiên Thần. Đức Thầy còn cho biết: xưa nay, Ngài đã có nhiều lần dùng Kinh pháp chỉ dạy chúng sanh, nhưng ít có người lo liệu tu thân lập hạnh.Chú Giải Sám Giảng (1975)
- gà cồ ăn bẩn cối xay
GÀ CỒ ĂN BẨN CỐI XAY: Con gà ăn chung quanh cái cối xay lúa (xay tay), giáp vòng cũng gặp lại mối đầu. Ý nói kẻ làm ác, sớm muộn gì cũng bị quả dữ trả lại (ác lai ác báo).
- Nguơn-Hạ
see Hạ-Ngươn
- Five Guys
This is related to the Five-Aggregates or Skandha.
- năm tên
Tức là ngũ uẩn
- Ego-clinging
This refers to the mind's distinction between self and others. It means the mind distinguishing between people and oneself, and between what belongs to others and what belongs to oneself, in terms of superiority, inferiority, and worth. This distinction is as follows:
Self: The mind distinguishes between oneself and others, wanting others to always follow one's wishes and to be dependent on, inferior to oneself in every way.
Self-Clinging: The distinction that oneself is more valuable than others, more worthy of life than others, and must possess and enjoy every high-class and luxurious thing before others.
Others' Possessions: The distinction that if someone possesses something good, beautiful, or precious, one wants to take it for oneself, even if the other person disagrees or finds it unreasonable. Conversely, if something is inferior or less valuable than one's own, one finds every way to criticize and reject it.
My Possessions: The distinction that everything belonging to oneself is valuable, far superior to what belongs to others, and one must carefully protect it. If something is lost, one becomes sorrowful, searches for it, and harbors all sorts of suspicions. Sometimes, because of our own small actions, we inadvertently harm the lives or property of others.
In short, because of the deluded mind that distinguishes between self and others, people become attached to fame, fortune, and love… to nourish their illusory bodies, thus being trapped in endless cycles of reincarnation.
The Master once advised (in GM TK, Vol. 4):
“The word 'self' is too harsh,
We should not discriminate against others.” - Nhơn Ngã
PHÂN NHƠN NGÃ: Tức là tâm phân biệt nhân ngã. Có nghĩa lòng phân biệt người – ta, và của người của ta trong chỗ hơn thua cao thấp, xấu tốt. Sự phân biệt ấy như sau:
Nhơn: Vọng tâm phân biệt người với ta khác nhau, muốn người lúc nào cũng phải theo cái ta muốn và phải lệ thuộc, phải kém thiếu hơn ta mọi việc.
Ngã: Phân biệt rằng ta quí trọng hơn người, đáng sống hơn người và mỗi việc cao sang sung sướng chi đều phải chiếm trên, hưởng trước hơn người.
Của Người: Phân biệt thấy người có món chi tốt đẹp quí báu, đều muốn lấy về làm của mình, dù người không bằng lòng hay không hợp lý. Trái lại, của ấy xấu kém hơn của mình thì tìm đủ cách chê bai hất hủi.
Của Ta: Phân biệt cái gì của ta đều là quí, là phải hơn của người gấp bội và lo bảo thủ không để hở. Rủi cái của ta mất đi thì sầu não, tìm kiếm và nghi ngờ đủ thứ. Nhiều khi vì chuyện nhỏ của ta mà nỡ hại sanh mạng hay tài sản của người.
Tóm lại, vì cái vọng tâm phân biệt nhơn ngã, khiến con người tham đắm danh, lợi, tình…để bồi bổ cho giả thân mà phải luân hồi mãi mãi. Đức Thầy từng khuyên (trong GM TK, Q.4):
“Chữ nhân ngã cũng là quá gắt,
Ta chớ nên phân biệt với người”. - Five-Aggregates
Also called the Skandha. It means five elements that combine to conceal the true nature of a person. According to Buddhist scriptures, the five aggregates are: form, feeling, perception, volition, and consciousness. However, the Master now explains them as: greed, anger, delusion, cause, and self. These two explanations, although different in terminology, have the same underlying meaning.
A) The Five Aggregates: According to Buddhist scriptures;
1/- Form Aggregate: This is the physical body composed of the four elements. Wherever there is a physical body, there is birth, aging, sickness, and death… Yet sentient beings develop deluded attachments and seek material things to serve it.
2/- Feeling Aggregate: When there is a physical body, there are naturally the six senses: sight, hearing, smell, taste, touch, and mind, which constantly receive the six objects of perception: form, sound, smell, taste, touch, and mental objects… causing sentient beings to develop attachments, aversions, craving, and aversion.
3/- Perception Aggregate: After the six senses receive the six objects of perception, these feelings of grasping, letting go, love, and hatred cause sentient beings to
generate and remember them forever.4/- Volition Aggregate: When imagining and remembering these feelings of grasping, letting go, love, and hatred, sentient beings develop a mind to
resolve to actually practice them.5/- Consciousness Aggregate: Regarding the actions that have been and are being performed, each one causes sentient beings to develop a mind of discrimination between self and others, superiority and inferiority, good and bad…
How to break the Five Aggregates: according to Buddhist scriptures:
To destroy the five aggregates, the practitioner must eradicate the deluded mind clinging to the ego. Once the ego is destroyed, the physical body will no longer be so important. When the physical body is no longer so important, the arising delusions—feeling the six...
- Ngũ-Uẩn
Cũng gọi là ngũ ấm. Có nghĩa năm cái kết hợp, che đậy chơn tánh của con người. Theo Kinh Phật từ trước thì ngũ uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Còn Đức Thầy nay giải là: tham, sân, si, nhân, ngã. Hai lối giải nầy, tuy danh từ có khác, nhưng lý nghĩa vẫn đồng nhau.
A)- Ngũ Uẩn: Theo Kinh Phật giải;
1/- Sắc Uẩn: là sắc thân tứ đại giả hợp. Hễ có sắc thân tức có sanh, già, bịnh, chết…Thế mà chúng
sanh khởi tâm chấp trước điên đảo, rồi mưu cầu vật chất phụng sự nó.
2/- Thọ Uẩn: Khi có sắc thân, dĩ nhiên phải có lục căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thường tiếp nạp
sáu trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp…làm cho chúng sanh khởi tâm thủ, xả, ái, ố.
3/- Tưởng Uẩn: Sau khi lục căn tiếp nạp lục trần, những cái thủ, xả, ái, ố đó làm cho chúng sanh
khởi tâm tưởng tượng ghi nhớ mãi.
4/-Hành Uẩn: Khi tưởng tượng ghi nhớ những điều thủ, xả, ái, ố, làm cho chúng sanh khởi tâm
quyết thật hành cho kỳ được.
5/- Thức Uẩn: Đối với những việc đã và đang thực hành, mỗi mỗi đều làm cho chúng sanh khởi
tâm phân biệt người và ta, hơn thua, tốt xấu…
Cách phá Ngũ Uẩn: theo Kinh Phật dạy:Để tiêu phá ngũ uẩn, hành giả cần phải diệt sạch vọng tâm câu chấp bản ngã. Diệt được bản ngã thì chẳng còn quá trọng sắc thân. Sắc thân hiện hữu đã chẳng quá trọng thì các cái vọng khởi: thọ lục trần, tưởng ái ố, hành đắc thất, thức nhơn ngã sẽ tự tiêu diệt ngay. Vì rằng các vọng khởi: thọ, tưởng, hành, thức chỉ để cung cấp cho sắc thân, hễ tâm vọng chấp sắc thân không còn là chúng nó không còn. Tâm Kinh có chép: Hễ soi thấy năm uẩn đều không, thì vượt qua tất cả lao khổ nạn ách, tức được tự tại an vui (chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách).
B)- Ngũ Uẩn: theo Đức Thầy giải trong đây:
1/- Tham: tức là tham vọng luyến ái. Từ một điểm khởi niệm tham ái, tâm hồn đã tạo nghiệp
sanh tử mới đi đầu thai, thành có xác thể con người.
2/- Sân: là lòng nóng giận. Khi có xác thân, tất phải có sáu căn, tiếp nhiễm với sáu trần; song sự
thèm khát ô nhiễm của sáu căn không thỏa mãn, nên... - Nothingness only is the true entity
The true nature is the formless.
Because the mind is inherently empty, practitioners should not cling to the forms of phenomena, such as the five aggregates mentioned above. All phenomena lack inherent reality and permanence. If a practitioner eliminates the attachment to the forms of phenomena, they will attain the true nature of the Tathagata. The Diamond Sutra teaches: "When a practitioner is no longer bound by forms, that is, when they no longer distinguish between the forms of others, the forms of self, the forms of sentient beings, and the forms of life, then the true nature will always manifest itself (the true nature of the Tathagata)." (Commentary on the Repentance Sutra 1975)
From the perspective of the Dharma-characteristics school, the above distinction in teaching is based on three levels of perception of reality. At the lowest level (Theravada), one acknowledges reality as real (attachment to existence), and directs practice towards perfecting the undesirable aspects of that reality. At the second level, one recognizes that the nature of reality is illusory, unreal (attachment to non-existence), and directs practice towards detaching oneself from unreal reality to achieve liberation. At the third, highest level, one recognizes that reality is neither existence nor non-existence (neither existence nor non-existence), and directs practice towards achieving liberation through one's own mind, because when the mind is deluded, reality is real and full of suffering, but when the mind is clear, it is no longer bound by reality and can recognize the true nature of all phenomena, thereby achieving liberation. This doctrine of neither existence nor non-existence is the middle path of the Dharma-characteristics school Pháp Tướng Tông: trung dung.
- Vô pháp-tướng
Vô pháp-tướng mới là thiệt tướng
Bởi cái tâm vốn chơn không, cho nên người tu không nên chấp vào các pháp tướng, như ngũ uẩn nói trên. Vì các pháp đều không có thật thể và thường tồn. Nếu hành giả trừ được cái tâm tham chấp vào các pháp tướng, tức chứng được cái thiệt tướng của Như Lai. Kinh Kim Cang có dạy:“Người tu hành đến khi nào không còn bị các tướng câu thúc, tức là không còn phân biệt có tướng người, tướng ta, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, tất nhiên cái thiệt tướng thường tái hiện ra sừng sững vậy (chơn tướng Như Lai)”. (Chú Giải Sám Giảng 1975)
"Nhìn từ góc độ của Pháp tướng tông thì sự phân biệt thuyết pháp như trên là dựa theo ba mức độ nhìn nhận về thực tại. Ở mức độ thấp nhất (Tiểu thừa), người ta thừa nhận thực tại là thật có (chấp hữu), và hướng sự tu tập đến việc hoàn thiện những điều bất như ý trong thực tại đó. Ở mức độ thứ hai, người ta nhận rằng bản chất của thực tại là hư ảo, là không thật có (chấp vô), và hướng sự tu tập đến chỗ tách rời ra khỏi thực tại không thật có để đạt được sự giải thoát cho riêng mình. Ở mức độ thứ ba, mức độ cao nhất, người ta nhận ra rằng thực tại là chẳng phải có cũng chẳng phải không (phi hữu phi vô), và hướng sự tu tập vào việc đạt đến giải thoát bằng chính tự tâm, bởi vì khi tự tâm mê lầm thì thực tại là thực có và đầy dẫy khổ đau, nhưng khi tự tâm sáng suốt thì không còn bị trói buộc bởi thực tại mà có thể nhận ra được thật tánh của vạn pháp, từ đó mà đạt được sự giải thoát tự tại. Giáo lý về phi hữu phi vô này chính là con đường trung đạo của Pháp tướng tông." https://thuvienhoasen.org/a13581/phap-tuong-tong
- Four Sufferings
The four sufferings are the four great sufferings: Birth, Old Age, Sickness, and Death. It is a law: Wherever there is birth, there will inevitably be old age, sickness, and death; no living being can escape them. In the past, the Buddha often taught: "O monks! Do not question whether this world is finite or infinite, limited or unlimited. Whether this world is finite, limited, or unlimited, what we should observe is the reality of life: suffering because of 'birth, old age, sickness, and death'."
Today, the Buddha advises: "Find the root cause of the four sufferings." Upon examination, the physical body is the root of suffering (the source of suffering), and its seed (the source) is the deluded mind and afflictions (the origin of suffering).
During the time of the Buddha, there were four monks who were studying together. One day they sat down to discuss suffering:
The first monk said:
– I think that in life, fear is the greatest suffering, because when that mind arises, one cannot find peace.
The second monk's opinion:
– I think that in life, hunger and thirst are the greatest suffering, because when hungry, one must worry about creating food and clothing, and cannot find peace in practicing the Dharma.
The third monk presented:
– In my opinion, anger is the greatest suffering, because when that mind arises, one loses all wisdom, harming both friends and strangers, causing considerable suffering.The third monk stated:
– In my opinion, anger is the greatest suffering, because when that mind arises, it destroys all wisdom, harming everyone, whether close or distant, causing considerable suffering and sin.
The fourth monk said:
– Personally, nothing is more painful than lust; it is the seed of birth and death, enslaving people throughout their lives, leading to moral decay and the obscuring of wisdom. While the four monks were debating, each believing their own opinion was correct, the Buddha arrived. The four bowed to the Buddha and asked for his... - Tứ Khổ
TÌM NGUỒN CỘI DIỆT TRỪ TỨ KHỔ: Tứ khổ là bốn điều khổ lớn: Sanh, Già, Bịnh, Chết. Đó là định
luật: Hễ có sanh ra xác thân, tất phải có già, bịnh, chết; không một chúng sanh nào thoát khỏi.
Xưa, Đức Phật thường dạy:“Nầy các Tỳ Kheo ! các ngươi đừng thắc mắc về vấn đề thế giới nầy là
hữu cùng hay vô cùng, hữu hạn hay vô hạn. Dù thế giới nầy hữu hạn, hữu cùng hay vô hạn, vô cùng,
điều mà chúng ta nên nhận xét cái thật có trong đời là khổ sầu vì “sanh, lão, bịnh, tử”.Ngày nay, Đức Giáo Chủ khuyên:“Tìm nguồn cội diệt trừ tứ khổ”. Xét ra xác thân là gốc khổ (khổ
đề) mà hột giống (nguồn cội) của nó là vọng tâm phiền não (tập đề).Thuở Đức Phật còn trụ thế, có bốn vị Tỳ Kheo cùng đang tu học. Một hôm họ ngồi lại bàn luận về
các sự khổ:
Tỳ Kheo thứ nhứt nói:
– Tôi nghĩ trong đời chỉ có sự sợ hãi là khổ hơn hết, vì cái tâm ấy khởi lên thì không thể nào yên
lòng được.
Ý kiến của vị thứ nhì:
– Tôi nghĩ trong đời chỉ có sự đói khát là khổ hơn cả, bởi đói thì phải lo tạo tác cho có cơm ăn áo
mặc, đâu yên tâm hành đạo được.
Tỳ Kheo thứ ba trình bày:
– Theo tôi thì sự nóng giận là khổ hơn hết, vì cái tâm ấy khởi lên làm mất hết trí khôn, bất luận kẻ
thân người sơ đều bị mình làm thiệt hại, gây ra tội khổ không ít.
Tỳ Kheo thứ tư nói:
– Riêng tôi, không chi khổ bằng sự dâm dục, chính nó là hột giống sanh tử, suốt đời con người
đem thân làm tôi mọi cho nó, đi đến chỗ hư thân mất nết, mờ đục cả trí
huệ. Trong lúc bốn vị Tỳ Kheo đang tranh luận, ai cũng cho chỗ
nhận xét của mình là đúng, may đâu Đức Phật vừa đi tới, bốn người đồng lễ Phật và nhờ Ngài phân
giải.
Phật ôn tồn bảo:
– Các ngươi luận đều phải cả, song chỉ biết được ngọn ngành của sự khổ, chớ chưa thấy tận
nguồn gốc của nó. Gốc khổ là do xác thân, tại có thân nầy mới có lòng tham dục, nóng giận, đói khát
và hãi sợ…Nếu thân nầy chẳng có, lấy đâu mà có bốn sự khổ kia. Cho nên muôn sự phiền, ngàn sự
khổ đều dồn chứa vào xác thân. Song nguyên nhân chánh là do vọng tâm, bởi có vọng tâm phiền não
mới sanh ra xác thân để rồi chịu khổ. Vậy các... - form and emptiness
Form is the appearance, but its essence is emptiness; therefore, form is no different from emptiness, form is emptiness; moreover, from emptiness arise conditioned phenomena (form and emptiness), so emptiness is no different from form, emptiness is also form. In the "Heart Sutra," the Buddha said: "Form is not different from emptiness, emptiness is not different from form"; form is emptiness, emptiness is form." (Form and emptiness are no different from true emptiness, true emptiness is no different from form; form and emptiness are true emptiness, true emptiness is form and emptiness). This means that beyond form and emptiness there is true emptiness, and beyond true emptiness there are no form and emptiness. Understanding this principle, we will avoid bias (which is the root of suffering), even though the terms "form" and "emptiness" still exist in language. Upon realizing the principle of "form and emptiness," Venerable Tuệ Trung Thượng Sĩ said:
"From non-existence to existence, existence and non-existence are interconnected,
Existence and non-existence are ultimately the same.
Afflictions and enlightenment are originally non-dual,
True reality and deluded thoughts are all emptiness."The body is like an illusion, karma like a shadow,
The mind is like a gentle breeze, nature like a floating cloud.
And then there is the question of life and death, demons and Buddhas,
All the stars gather in the North, the water flows East.-Thus, form and emptiness are also the same mind-essence, like waves and water. Therefore, the phrase "seeking the words 'form and emptiness'" means understanding the "true nature and reality" of oneself. The Master once taught: "Seek emptiness to have" (People's Verse, Vol. 2) and: "Form and emptiness, emptiness and form, do not be separated" (Awakening the Mortal World).
Chú Giải Sám Giảng (1975)
- sắc không
Sắc là tướng có, thể của nó là không; cho nên, sắc chẳng khác gì không, sắc chính là không; vả lại, từ cái không hiện ra các cảnh vật hữu vi (hoạn sắc) nên không chẳng khác gì sắc, không cũng chính là sắc. Trong “Bát Nhã Tâm Kinh”, Phật nói: “ Sắc bất dị không, không bất dị sắc”; sắc tức thị không, không tức thị sắc”.(Hoạn sắc chẳng khác chơn không, chơn không chẳng khác hoạn sắc; hoạn sắc tức là chơn không, chơn không tức là hoạn sắc). Nghĩa là nói ngoài các hoạn sắc không có cái chơn không, ngoài cái chơn không cũng không có các hoạn sắc. Hiểu lý nầy, ta sẽ tránh được sự thiên chấp (vốn là cái gốc của phiền não) mặc dù hai tiếng sắc và không trong ngôn ngữ vẫn còn. Khi ngộ được lý “sắc không”, Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ đã nói:
“Tòng vô hiện hữu, hữu vô thông,
Hữu hữu vô vô tất kính đồng.
Phiền não bồ đề nguyên bất nhị,
Chân như vọng niệm tổng giai không.
Thân như huyễn cảnh, nghiệp như ảnh,
Tâm nhược thanh phong, tính nhược bồng.
Hựu vấn tử sinh ma dữ Phật,
Chúng tinh củng Bắc thủy triều Đông”.-Như thế, sắc chất và chân không cũng chỉ là cùng một tâm thể như sóng và nước. Vậy câu “kiếm chữ sắc không” là nói thấu đạt cái “bản thể chơn như thật tướng” của chính mình. Đức Thầy từng dạy:“Hãy tìm kiếm cái không mới có”(Kệ Dân, Q.2) Và:“Sắc không, không sắc chớ lìa xa”(Tỉnh Bạn Trần Gian)
Chú giải Sám Giảng (1975)
- Those near rivers grasp fish
NEAR WATERS, ONE KNOWS FISH’S CHARACTER.
NEAR MOUNTAINS, ONE KNOWS BIRDS’ SOUNDS
Verse 44, AWAKENING
Tang Quang Hien Van’s book has a sentence:
“Near water, one knows fish’s character.
Near the mountain, one recognizes the birds’ sound”
That means which person knows which group’s experience. For example, in fishery, the fisherman knows the fish’s habits of life. Similarly, in hunting, the hunter understands the bird’s chirping and living spaces. In morality, only if one seeks to learn how to practice, and stays close to their fellow believers, they can expect to grasp adequate knowledge of dogmas.
Thien Tam: Notes on the Oracles and Poems Collection
In the book by Tang Quang Hien Van, many passages are quite similar in concept:
“The long roads will reveal a horse’s power,
And Working long shows how good a person is.”
The Master also taught:
“It is only traveling a long way that one knows how far the horse can go,
In times of great danger, one will know who is the unscrupulous.”
- Fire Ox
Fire Oxen (born 1937, 1997) are powerful, determined, and industrious leaders, combining the Ox's inherent diligence with fire's passionate energy. They are reliable, honest, and deeply dedicated to family, but can be stubborn, hot-tempered, and blunt when challenged. They thrive in careers requiring endurance and leadership.
- Đinh-Sửu
Là năm 1937, trước năm Kỷ Mão (1939) hai năm
- Quỉ-Vương
Vua quỉ, quỉ chúa, kẻ cầm đầu trong hàng quỉ. Theo Phật học Từ điển thì quỉ có nhiều loại, tựu trung chỉ có hai hạng:
1.-Hạng quỉ có tánh lành, hay ủng hộ người tu hiền.
2.-Hạng quỉ hung ác thường hay phá khuấy dân chúng và Phật pháp, hiểu nghĩa cũng như Ma vương.
Nhưng chữ Quỉ Vương ở đây là chỉ cho loài quỉ hung ác, đối với các Đạo giáo, nhứt là Đạo Phật.
Chúng bày ra nhiều chi phái, nhiều học thuyết, nhiều hình thức, bùa linh phép thuật, đoán tâm lý, dị
đoan mê tín.v.v…để phá hại Phật pháp. Trong Giảng “Mười Một Hồi”, Ông Sư Vãi Bán Khoai đã nói:
“Năm năm sáu tháng cơ hàn,
Quỉ Vương gây loạn nào an thế trần.
Chỗ nào nó cũng muốn giành,
Thương cho Tần Quốc mười phần còn hai”.Nay Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng bảo:“Tam thiên lục bá khắp tràng hại dân.”(Thiên Lý Ca). Hoặc là:
“Tam thiên lục bá giáng lâm trần,
Khóc tử lang tâm biến họa dân.
Tà quái hạ ngươn khai ác chiến,
Ất niên bình thự kiến Quân thần”.(Đức Thầy đáp họa Ô. Huỳnh Hiệp Hòa)
Và: “Bàn môn tài phép nào tường,
Kêu Trời giậm đất cũng thì dạ rân.
Nói cho trần thế liệu toan,
Chớ theo tả đạo mà tan xác hồn.”
(Sám Giảng, Q.3)Chú Giải Sám Giảng (1975) - fellow buddhists
"The fellowship belongs to oneself, the Way is the religion.
The religion one is following. This is the voice of a master calling his disciples. The Master wrote:"In this path, from here on, you must take good care."
Or:
"Oh my fellow adherents, strive to correct yourselves" (Vol IV).
- bổn-đạo
Bổn là thuộc về mình, Đạo là đạo giáo.
Đạo giáo mà mình đang theo. Đây là tiếng của một vị thầy gọi các đệ tử. Đức Thầy viết:
“Trong bổn đạo từ đây kim chỉ”.
Hoặc là:
“Bổn đạo ơi hãy rán sửa mình”( Q.4). - Ancient People
People of the past. This refers to the ancestors of Vietnamese people, those who gave birth to the Vietnamese people, the Dragon and the Immortal.
- cocks disadvantaged
They have to wait until the next round to be caught.
It's common in cockfighting matches. After the initial match, people use incense sticks to mark the boundaries, then hang coins at each marked round. When the roosters start fighting, they light the incense; when the incense burns down to a certain point and the coin falls, it's called a "round." At that point, both sides take their roosters out to give them water, care for them, and comfort them for a few minutes to help them recover, then release them for the next round. The winner is determined when one rooster runs away or dies on the spot. Meanwhile, if a rooster is at a disadvantage, falls down, or is injured and can no longer fight, it just lies there, not dying or running away, so it hasn't lost yet. However, if it continues to struggle, it will be bitten and kicked by the other rooster and will surely die. If it's clever enough to lie still, the other rooster will think its opponent is about to die, so it will just stand there and not bite or kick anymore. Thanks to this, when the next round arrives, the owner takes the defeated rooster out to give it water and stitch up its wounds, allowing it to regain its strength. Then the owner would release his rooster into the fighting arena, and often it would easily defeat the other rooster.
- Chúng-sanh thể như gà thất thế,
Phải nằm chờ tới nước bắt ra
Thường thấy trong những cuộc chọi (đá) gà, sau khi cáp độ xong, người ta dùng cây nhang để phân ra nhiều chặng, rồi treo đồng xu ngay chặng phân đó. Khi gà bắt đầu đá thì đốt nhang; nhang cháy đến chặng, xu rớt xuống gọi là một nước gà. Bấy giờ hai bên đều bắt gà ra cho uống nước, săn sóc, o bế ít phút cho gà khỏe, rồi tiếp tục thả ra đá nước kế tiếp. Đến khi nào có một con chạy, hoặc chết tại chỗ là biết ăn thua. Trong khi ấy, nếu có một con thất thế, té xuống hay bị thương đá nữa không nổi, nó chỉ nằm đó, không chết, không chạy, thì chưa phải thua. Song nếu nó còn chòi đạp sẽ bị con gà kia cắn đá tất phải chết. Bằng nó biết khôn một chút, giả nằm yên tại chỗ thì con gà kia tưởng đâu đối thủ sắp chết, nên chỉ đứng nghiềm đó, chớ không cắn đá nữa. Nhờ đó kịp khi tới nước, người chủ bắt con gà thất thế ra cho nước, và may các vết thương, gà lấy lại sức khỏe. Bấy giờ chủ thả gà vào trường đá nữa, nhiều khi thắng được gà kia một cách dễ dàng.
Ở đây Đức Giáo Chủ muốn nói: hiện giờ nhằm lúc thạnh thời của ma quỉ và kẻ hung ác, chúng
dùng đủ cách đàn áp, phá hại người lương thiện:“Quân tử tùy thời hơi sút bước, Tiểu nhơn ỷ sức mạnh pha xông.”(Cho Ô. Chín Diệm) cũng như con gà bị thất thế. Vậy mỗi người nên ẩn nhẫn (chờ tới nước):“Nhẫn nhẫn cho rồi cơn bĩ cực, Thời lai sẽ được cảnh tiêu dao.”(Mấy Đoạn Tơ Lòng). - Thích-Ca Phật-Tổ
Đức Thầy còn kể lại, thời gian Đức Thích Ca ngồi tham thiền tại gốc Bồ Đề, gần bờ sông Ni Liên Thiền, bọn Ma Vương Quỉ quái cũng tìm đủ cách theo phá khuấy, nhưng tâm Ngài vẫn an nhiên định tĩnh và dùng thần thông nghị lực hàng phục được chúng. Tuy đã khâm phục Phật, song lòng chúng ma còn căm tức mãi nên phát thệ:“Hiện giờ bọn ta phá Phật không được, nhưng cũng thệ quyết qua đời sau sẽ phá hại Phật pháp và cả đồ chúng cho kỳ được mới nghe”. Vì thế từ độ ấy nhẫn nay, lúc nào cũng có chúng Ma quỉ: hoặc dùng áp lực bên ngoài, hoặc len lỏi vào nội bộ để tìm đủ cách phá hại nền Phật phá
(Chú Giải Sám Giảng 1975)
- Tòa-Chương
Tòa là chỗ ngồi hay ngai vị tôn nghiêm, chương là một loại ngọc quí, là chỗ an tọa của vị vua hay Đức Ngọc Đế. Đây chỉ cho ngôi vị quí báu. Đức Thầy có nói:
“Sớm với chiều gắng chí nguyện cầu,
Thì sẽ được tòa chương dựa kế” (GMTK, Q.4) - Xe-Loan
Do chữ Loan xa hay Loan giá. Có nghĩa: xe của Vua đi. Thời xưa xe của Vua đi thường có chạm hình chim Loan, do 4 con ngựa kéo (tứ mã), trên cổ ngựa có treo lục lạc (chuông); khi chạy đi tiếng chuông vang lên, tượng trưng cho chim Loan kêu. Vậy chữ dựa xe loan là nói sự được gần vị Thánh Vương đời Ngươn thượng. Cũng có ý chỉ cho sự tu hành khi được kết quả.
(Chú Giải Giáo Lý 1975)
- Lương-Võ-Đế
Lúc Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung Hoa truyền Đạo, có vào yết kiến và đàm luận Phật pháp với Võ Đế. Bởi quá chú trọng hình thức, nên Vua không thấu triệt được nghĩa lý diệu mầu trong lời Pháp giáo của Tổ, sanh tâm nghi ngờ. Thấy vậy, Tổ sư từ giã Vua vào chùa Thiếu Lâm ngồi quay mặt vào vách thiền định…
Võ Đế cho thiết lập trên 70 ngôi chùa trong khắp nước, để bá tánh có nơi sùng ngưỡng, chiêm bái. Vua có thỉnh chư Tăng soạn thành bộ Kinh sám hối với nhan đề là “Lương Hoàng Sám”, đến nay vẫn còn truyền tụng.
Sở dĩ Võ Đế được làm Vua và hâm mộ Phật pháp mà lại bị chết đói thảm khốc, là do duyên nghiệp sâu xa từ kiếp trước…
Tiền thân của Võ Đế, xưa là một tiều phu, thường vào rừng đốn củi đổi gạo. Hôm nọ tiều phu gặp một cốt Phật trơ trọi ngoài trời, nắng chảy mưa chan. Ông động lòng ái truất, liền lột cái nón lá đang đội, đội lên cho cốt Phật. Nhờ công phước của tấm lòng thành kính cúng dường ấy, nên kiếp sau ông được phước báo làm vua và hết lòng kính tin, phụng thờ Tam Bảo.
Cũng trong kiếp tiều phu ấy, thường ngày ông lên rừng đốn củi, có mang theo gói cơm để trên vồ đá, đợi khi đói lòng lấy ra dùng. Nhưng đã hai lần khi đốn củi xong, trở lại thì gói cơm của ông “không cánh mà bay đâu mất”, ông rất bực tức đành nhịn đói trở về.
Lần thứ ba ông quyết định tìm ra nguyên nhân vì đâu mà hai lần bị mất gói cơm. Cũng như mọi khi, lần nầy ông để gói cơm trên vồ đá rồi giả vờ xách búa ra đi, nhưng ông núp vào bụi rậm gần đó để rình xem. Một chập sau, thấy một con khỉ lớn đến ôm gói cơm chạy đi. Ông nhảy ra tốc rượt theo quyết đập con khỉ một búa cho hả giận. Khỉ hốt hoảng, song vì mắc ôm gói cơm nên leo lên cây chẳng được, túng cùng thấy cái hang đá gần bên, khỉ liền chun ngay xuống. Tiều phu cạy đá lấp miệng hang. Khỉ ở dưới ăn hết gói cơm lên không được, nên bị đói dần mà chết.
Bởi nghiệp nhân đó, nên khi Lương Võ Đế làm vua, thì con khỉ ấy đầu thai làm Hầu Kiển, lớn lên làm Quân sư cho Võ Đế. Sau Hầu Kiển sanh tâm muốn cướp ngôi vua nên lập... - King Liang Wu Di
Emperor Wu established over 70 temples throughout the country, so that the people would have places to worship and venerate. When Bodhidharma came from India to China to spread the Dharma, he visited and discussed Buddhist teachings with Emperor Wu. Because the Emperor focused too much on outward forms, he did not grasp the profound meaning in the teachings of the Bodhidharma, and began to doubt. Seeing this, the Bodhidharma bid farewell to the Emperor and went to Shaolin Temple to meditate facing a wall, composing a repentance sutra titled "Liang Huang Sam," which is still recited today.
The reason Emperor Wu, despite being a king and a devout Buddhist, died a tragic starvation was due to deep karmic connections from a previous life…
The previous incarnation of Emperor Wu was a woodcutter who often went into the forest to chop firewood in exchange for rice. One day, the woodcutter came across a solitary Buddha statue standing outdoors, exposed to the sun and rain. Moved by compassion, he took off his straw hat and placed it on the statue. Thanks to the merit of this sincere offering, in his next life he was blessed with the fortune of becoming a king and wholeheartedly worshipped and served the Three Jewels (Buddha, Dharma, and Sangha).
In that same life as a woodcutter, he would often go to the forest to chop firewood, carrying a packet of rice which he would leave on a rock to eat when he was hungry. But twice, after finishing chopping wood and returning home, his packet of rice had "vanished without a trace." He was very angry and had to go home hungry.
For the third time, he decided to find out why his rice packet had been lost twice. As usual, this time he left the rice packet on a rock and pretended to leave with his axe, but he hid in a nearby bush to watch. After a while, he saw a large monkey come and run away with the rice packet. He jumped out and chased after it, determined to strike the monkey with his axe to vent his...
- Six Robbers
The six senses of a person are comparable to the six spies inside a citadel which sneakily opens for six enemy armies to infiltrate.
The six robbers or thieves, that is, the six senses: eyes, ears, nose, tongue, body, and mind. They are called Robbers because they often incite people to become engrossed in beauty, pleasant sounds, fragrant smells, delicious tastes, physical pleasure, and lustful thoughts. They work like clandestine agents to subvert the leadership of the state and wait for the opportunity to stage a general uprising.
Ancient sages once said: "From delusion to delusion, all people are thieves of the six senses." (From delusion in this life to the next, all people remain deluded, all because of these six thieves.)It is imperative that a Buddhist practician is capable of controlling their six senses (the six robbers) to attain
supernatural powers and liberation (When the senses and objects of perception are purified, the six supernatural powers are manifested). - Tam Banh
The three afflictions (Greed, Anger, Delusion) are like three evil spirits, including: Bành Cư at the head, Bành Chất at the abdomen, Bành Kiểu at the hands and feet, who often incite people to do wrong (some sources interpret them as Bành Cư, Bành Căn, and Bành Dục).
This phrase normally goes along with the Six Robbers, which have a popular reference to
The six robbers refer to the six senses: eyes, ears, nose, tongue, body, and mind. They are called the six robbers because they often incite people to become attached to beautiful sights, pleasant sounds, fragrant smells, delicious tastes, bodily comfort, and mental desires.
A practicer who can bring the six senses (six robbers) under control and is no longer polluted by the six sense objects achieves the six supernatural powers and attains freedom and liberation (When the human sense organs and sense objects are pure, one obtains the six supernatural powers; this is the truth).
- Pali language
Pali is a Middle Indo-Aryan language, primarily known as the sacred and liturgical language of Theravāda Buddhism, used to preserve the earliest Buddhist scriptures.
Origins and Historical Context
Pali originated over 2,500 years ago in northern India, around the time of the historical Buddha (5th–4th centuries BCE), evolving from the vernacular dialects of the Magadha region ourbuddhismworld.com+1. Unlike Sanskrit, which was a learned and complex language, Pali was simpler and more accessible, allowing the Buddha’s teachings to reach a broader audience ourbuddhismworld.com+1. The language was initially transmitted orally and later written down in Sri Lanka around the 1st century BCE, forming the Pāli Canon or Tipiṭaka Omniglot+1. Pali was designated a classical language of India in 2024 Wikipedia.
- cận thủy tri ngư,
LỜI SÁCH XƯA CẬN THỦY TRI NGƯ, CẬN SƠN LÃNH TRẦN GIAN TRI ĐIỂU: Sách Quảng Hiền Văn
có câu:“Cận thủy tri ngư tánh, cận sơn thức điểu âm” (Gần nước biết tánh cá, gần rừng núi biết tánh
chim). Ý nói người ở giới nào thì từng trải việc của giới đó. Ví như hành nghề ngư nghiệp thì biết tánh
cá, còn thợ săn thì biết rõ tiếng chim kêu và chỗ ăn ngủ của loài chim . Việc đạo đức cũng thế, có tìm
cầu tu học, và có gần gũi thầy bạn tu hành mới mong thâm nhập giáo lý.Người xưa có câu: “Cận thủy tri ngư, cận lâm thức điểu” – gần nước thì hiểu cá, gần rừng thì biết chim. Một lời nói ngắn gọn, nhưng ẩn sau đó là kinh nghiệm sống rất sâu về cách quan sát sự vật và thấu hiểu con người.
Khi một người sống cạnh biển hay sông hồ đủ lâu, thường xuyên ra khơi đánh bắt cá, quan sát và lắng nghe dần dần qua thời gian, họ sẽ hiểu được thói quen cũng như tập tính của cá. Thậm chí còn biết rõ từng loại cá, tôm; thủy triều lúc nào lên, lúc nào xuống; thời gian nào, khu vực nào nhiều cá tôm; muốn đánh bắt loại cá nào thì cần đánh ở đâu, thời điểm nào, cách thức ra sao. Và đó cũng là kỹ năng cần thiết đối với một ngư dân.
Đối với chim chóc hay thú rừng cũng vậy. Người sống gần rừng, chuyên vào rừng săn bắt hay kiếm củi, quan sát chim muông, nghe nhiều, nhìn lâu, tự nhiên phân biệt được tiếng chim, thói quen bay lượn, giờ giấc kiếm ăn.
Cá và chim không tự nói ra mình sống thế nào, nhưng ai ở đủ lâu, nhìn đủ kỹ, tự khắc sẽ hiểu tập tính, đường đi, chỗ ở của chúng. Hiểu ấy không đến từ suy đoán, mà từ sự quan sát bền bỉ theo thời gian.
Người với người cũng vậy.
Không thể chỉ nghe qua vài lời kể, nhìn thoáng dáng vẻ bên ngoài, hay dựa vào một lần gặp gỡ mà vội cho rằng mình đã hiểu một con người.
Có người khi mới tiếp xúc tỏ ra cung kính, lễ độ, nói năng chừng mực, dáng vẻ đàng hoàng tử tế. Nhưng những biểu hiện ban đầu ấy chỉ là lớp vỏ. Khi gặp gỡ đủ lâu, tiếp xúc đủ gần sẽ thấy rõ bản chất thật của họ.
Một con người rốt cuộc là ai không nằm ở lời nói...
- True Self
The true self (also known as real self, authentic self, original self and vulnerable self) and the false self (also known as fake self, idealized self, superficial self and pseudo self) are a psychological dualism conceptualized by English psychoanalyst Donald Winnicott.[1] Winnicott used "true self" to denote a sense of self based on spontaneous authentic experience and a feeling of being alive, having a real self with little to no contradiction.[2] "False self", by contrast, denotes a sense of self created as a defensive facade,[1] which in extreme cases can leave an individual lacking spontaneity and feeling dead and empty behind an inconsistent and incompetent appearance of being real, such as in narcissism.[1]
- Tam-Bành
Ba món phiền não (Tham, Sân, Si) như ba vị ác thần, gồm có: Bành Cư ở đầu, Bành
Chất ở bụng, Bành Kiểu ở tay chơn, hay xúi người làm quấy (có chỗ giải là Bành Cư, Bành Căn và
Bành Dục).
LỤC TẶC: Sáu con giặc, tức là sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sở dĩ gọi nó là con giặc; vì nó
hay xúi giục con người đắm nhiễm theo sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, thân sướng và ý dục.
Cổ Đức từng nói:“Tùng mê chí mê, giai nhơn lục tặc”(Từ mê đời nầy đến đời sau cũng còn mê, đều
bởi sáu tên giặc ấy mà ra).
Người tu hành có điều phục được sáu căn (lục tặc) không còn ô nhiễm sáu trần, tức đắc được lục
thông và tự tại giải thoát (Nhân căn trần thanh tịnh nhi đắc lục thông thị hiện giả dã). - chơn-nhơn
Réo những ai lợi dụng làm xằng
Cho suy-sụp chơn-nhơn mờ-mịt.
Chơn nhơn còn gọi là chân nhân theo một số kinh sách.
Cũng gọi là chơn thân, pháp thân hay chơn không, tánh nó vốn thường trụ, bất biến. Người chứng ngộ được chơn lý gọi là chơn nhơn, bậc thánh A-la- hán. Cho nên, chơn nhơn đối ngược lại tánh phàm trần. Đức Thầy từng dạy:
“Lấy chơn nhơn dẹp tánh phàm trần,
Mới có thể mong về Cực Lạc”(GMTK, Q.4)Bậc Chân Nhân được nói đến trong Tiểu Kinh Trăng rằm Cūḷa Puṇṇama Sutta (M 110). định nghĩa Chân Nhân là:
- Người đức hạnh, có tín tâm;
- có học thức: nghe – đọc nhiều;
- nhiệt tình, có lòng tự tôn;
- tài trí và biết tôn trọng người khác;
- Có chánh kiến, biết phân biệt đúng sai và có khả năng suy nghĩ độc lập.
Là người xuất gia thì bậc chân nhân có những tư cách hơn người tầm thường như được nói Trong kinh Chân Nhân (M. 113) là người hiểu đúng mục đích của đời sống xuất gia, sống đời thánh thiện và không đồng hóa mình với bất cứ điều gì trong thế gian, kể cả các pháp hành và chứng đạt tâm linh. Nói cách khác, đó là người tốt, thiện hữu tri thức (kalyāṇa), tuy chưa phải là thánh (Ariya). Cũng nên biết cách phân biệt như thế nào thì không phải là người tốt, còn là phàm phu tục tử (puthujjana).
(Thư Viện Hoa Sen: https://thuvienhoasen.org/a36885/bac-chan-nhan-sappurisa)
- Thượng-Nguơn
Một khi mười tám nước phục-tùng thì Tam-giới công-đồng hội-hiệp để trừng trị những người hung ác ban thưởng người hiền lương:
Người hung chết rất chật thây,
Nhìn xem bắt thảm ngày rày cho dân.
Mấy người còn được xác thân,
Thi là đài ngọc, các lân mới kề.
Về đoạn Tam-giác công-đồng hội-hiệp, ông Sư-Vãi Bán-Khoai có viết :
Thiên-đàng Địa-ngục hiệp sang,
Trung-ương Tam-giới xuê-xang phỉ tinh.
Nói cho bá-tánh làm tin,
Đừng mê đạo khác mà quên Nam-đình.
Đến chừng gặp hội bình-minh,
Gươm nào tội nấy chớ tình thở than.
Còn ông Ba Thời thì viết :
Sau Tam-giới hội lại một ngôi,
Muôn dân lạc-nghiệp chúa tôi thuận hoà.
Về đoạn này Đức Huỳnh Giáo-chủ giải rất rõ :
Hiền lành chừng đó sum vầy,
Quân thần cọng lạc mấy ngày vui chơi.
Đến đó Ta thấy mới mừng cười,
Nhìn xem Ngọc-Đế giữa Trời định phân.
Thiên-hoàng mở cửa các lân,
Địa-hoàng cũng mở mấy từng ngục-môn.
Mười cửa xem thấy ghê hồn,
Cho trần coi thử có mà hay không ?
Nhơn-hoàng cũng lấy lẽ công.
Cũng đồng trừng trị kẻ lòng tà gian.
Ấy là đến lúc xuê-xang,
Tam-hoàng trở lại là đời Thượng-Ngươn.
Về việc Đức Ngọc-Đế định phân, Đức Huỳnh Giáo-chủ còn cho biết thêm rằng :
Có ngày mở rộng qui khôi,
Non Thần vang chuyển Khùng ngồi xử phân.
Huyền-cơ máy tạo xoay vần,
Đồng về Phật cảnh mười phần xinh tươi:
Chẳng những Ngài dự một phần trong việc phân định của Đức Ngọc-Đế, mà còn lãnh một trọng trách trong việc lập bảng Phong-Thần nữa.
Về bảng Phong-Thần Đức Huỳnh Giáo-chủ có viết :
Các nơi Tiên-trưởng đâu đâu,
Lư-bồng hội-hiệp đồng chầu Thánh-vương.
Trụ kia bạo ác phải nhường
Võ-vương hữu đức đường đường trị dân.
Thì rõ việc Phong-Thần trở lại,
Thuyền Đông-Pha lèo lái cánh trương.
Và chỉ có người hiền đức mới xem được cuộc Phong-Thần đăng bảng :
Nhờ ơn Trời ban bố đức ân,
Xem chung cuộc Phong-Thần tại thế.
Nhưng vị nào lãnh phần đứng ra dựng bảng Phong-Thần ? Đức Huỳnh...
- Three Follows
The Three Obediences and Four Virtues (Chinese: 三從四德; pinyin: Sāncóng Sìdé) is a set of moral principles and social code of behavior for maiden and married women in East Asian Confucianism, especially in ancient and imperial China. Women were to obey their fathers, husbands, and sons, and to be modest and moral in their actions and speech.
Terminology
The two terms ("three obediences" and "four virtues") first appeared in the Book of Etiquette and Ceremonial and in the Rites of Zhou respectively, which codified the protocol for an elegant and refined culture for Chinese civilization. The protocol was originally meant to define the various parts of a harmonious society and was not intended as a rule book. This code had a strong impact on ancient and imperial China. It went on to influence other East Asian civilizations, such as Japan and Korea, and prescribed East Asian social and philosophical thought even into the twentieth century.[1]
- Five Elements
Wuxing (Chinese: 五行; pinyin: wǔxíng; Jyutping: Ng5 Hang4),[a] translated as Five Moving Ones, Five Circulations, Five Types of Energy, Five Elements, Five Transformations, Five Phases or Five Agents,[2] is a fivefold conceptual scheme used in many traditional Chinese fields of study to explain a wide array of phenomena, including terrestrial and celestial relationships, influences, and cycles, that characterise the interactions and relationships within science, medicine, politics, religion and social relationships and education within Chinese culture.
- tà-mị
TÀ MỊ: Dối trá, gian xảo, tà khúc. Trong tà mị cũng có dị đoan, mê tín. Nhiều tà sư thường bày ra những điều tà mị để làm mê hoặc tín đồ.
DỊ ĐOAN: Dị là lạ; đoan là manh mối. Chỉ cho các tà đạo hay bày ra những điều mị dối lạ lùng để gạt gẫm người đời. Đức Thầy thường khuyến giáo:
“Giáo khuyên khắp hết đâu đâu,
Bớt điều mị dối mới hầu thấy ta.
Đừng theo lũ quỉ lũ ma,
Cúng kiếng nó mà nó phải ăn quen”. (Sám Giảng.Q.3) - Bệ-Ngọc Long-Xa
BỆ NGỌC: Ngai vàng chỗ vua ngồi
LONG XA: Xe rồng, tức xe của vua đi.
- tả-đạo
TẢ ĐẠO: Cũng gọi là tà đạo hay ngoại đạo, tức là bất chánh, đường lối không chánh đáng, không đúng chơn lý, trái với chánh Đạo.
Khi xưa, Phật có di chúc cho các Tỳ Kheo 6 loại ngoại đạo:
1.-“Khi ta nhập diệt rồi, có nhiều thứ Ma Ba Tuần vào trong Đạo pháp Ta, ở chùa cạo đầu mang áo Phật, xưng là đệ tử của Phật, chung lộn với người đời, ăn thịt uống rượu, làm dơ bẩn Đạo Phật. Đó là loại ngoại đạo thứ nhứt.
2.- Còn có người dắt vợ con vào chùa học theo tà thuật, để truyền lại cho đệ tử, ăn thịt, uống rượu cũng đi làm chay tụng kinh cho người. Đó là loại ngoại đạo thứ nhì.
3.- Lại có những người trên không có Thầy truyền, dưới không có Thầy chứng, bị ma quỉ ám ảnh mê muội, trí hiểu biết bậy bạ lại cho là thông minh, chẳng có công tu, tự xưng là thành đạo. Bên ngoài làm giống theo Phật, nhưng trong tâm tính việc tà mị, phỉnh gạt người đời theo vào đường tà, diệt hột giống trí của Phật. Đó là loại ngoại đạo thứ ba.
4.- Lại có người làm theo việc hữu tình, học pháp hữu vi, vẽ bùa thỉnh chú, đuổi quỉ sai thần, lừa dối bá tánh, ác kiến càng nhiều, nên chánh kiến càng tiêu. Đó là ngoại đạo thứ tư.
5.- Lại có người theo việc tốt xấu, học chiếm quẻ, bàn việc kiết hung, coi bói xem tướng, nói trước những điều họa phúc, dối chúng gạt dân, tiêu diệt chánh pháp của Phật. Đó là loại ngoại đạo thứ năm.
6.- Lại có người sửa soạn hình tướng, bụng trống lòng tự cao; không có tài năng mà tự cho mình giỏi, chưa có chứng ngộ lại cho rằng mình đã chứng ngộ, học đặng một vài lời cho mình đã thấu đặng lý.
Chẳng ăn dầu, muối, trà, quả, tương, giấm; chấp theo tà tướng, dối gạt người thiếu trí. Chẳng cần xem Kinh niệm Phật, chẳng cần làm phước tham thiền. Không thọ trì giới luật, chẳng cần tìm sư học Đạo, dám đem cái thân giả dối này mà cho cùng Phật không khác, dối gạt người không biết, đồng đi vào chỗ hắc ám, dứt đoạn căn lành, tiêu diệt giống trí huệ, hay chấp trước những sự khờ khạo ngu si.
Đây là loại ngoại đạo thứ sáu. Sáu hạng trên đây gọi là Lục sư... - vua Tề với vợ Thôi Tử
-Các đoạn trước giải về bốn điều ác của Khẩu nghiệp, tiếp đây đến phần ác Tà dâm. Đức Thầy liệt nó vào thứ năm của Thập ác, tức là tội thông dâm với vợ con hoặc chồng của người khác, chớ không phải vợ hay chồng chánh thức, do luật nước hay cha mẹ chấp nhận.
Hành trạng của tội ác nầy lan diễn khắp hạng người. Cũng vì quá đắm mê sắc dục mà Vua chúa hôn quân, nỡ cướp vợ của bầy tôi; cung phi dâm loàn với hàng quan tướng, như trường hợp “Vua Tề với vợ Thôi Tử, An Lộc Sơn với Dương Quí Phi…”Ác Tà dâm làm đảo lộn nền luân thường đạo lý.
Những sự ấy đã gây biết bao cảnh huống đau thương, nào sự nghiệp tiêu tan, thân chết một cách thảm thiết, linh hồn phải bị cuốn theo nghiệp báo, nào bị tiếng đời chán chê, phỉ nhổ, lại còn làm cho dân chúng chịu vạ lây mà xưa nay luật báo ứng trong Trời đất không thể nào tha thứ được. Người giàu sang thường dùng của tiền lừa gạt dâm hiếp kẻ nghèo. Còn hạng quan trường thì dùng uy lực cưỡng bức dân quê, gây sự tủi nhục cho hàng nữ lưu không ít.Câu chuyện của Tề Hoàn Công đạt đến đỉnh cao quyền lực và kết cục bi thảm do tính hiếu sắc và hiếu thục của ông đã thiêu rụi sự nghiệp của ông mà còn bị chết đói trong ngục thất do chính những người mà ông từng tin tưởng trọng dụng, Ông có đến sáu người vợ và bảy trăm cung nữ.
- Zhou Zhao Di
HOUSE OF KING ZHAO OF ZHOU: That is King Zhao, named Ha, son of King Kuang of the Zhou dynasty in China. According to the book “Chronicles of Zhou Poetry”, King Zhao reigned over the Zhou dynasty until the 24th year, which was the year of the birth of Siddhartha Gautama in India. At that time, Vietnam was in the era of the Hung Kings (Ancient times).
- Châu Chiêu-Đế
NHÀ CHÂU CHIÊU ĐẾ: Tức vua Chiêu Vương, tên là Hà, con vua Khương Vương đời nhà Châu nước Trung Quốc. Theo sách “Châu Thơ Ký” thì Chiêu Vương làm vua nhà Châu đến năm thứ 24 là năm Đức Thích Ca đản sanh tại Ấn Độ. Bấy giờ nước Việt Nam nhằm đời Hùng Vương (Thượng Cổ thời đại).
- Pureland Boat of Insights
"Bát Nhã Thoàn", refers to wisdom, generally using the boat of enlightenment to cross over delusion, in other words, the world is full of temptations.
BÁT NHÃ THOÀN: Also read as the Prajna boat. Bát Nhã is the transliteration of the Sanskrit (Scr.) Prajna, a special term in Buddhism, encompassing many meanings, succinctly translated as Wisdom, which is pure and clear. Bát Nhã has three aspects:
1.- True aspect of Bát Nhã: The luminous spiritual intelligence, permanent and unchanging in every sentient being (self-awareness).
2.- Contemplative Bát Nhã: The clear and penetrating intellect that discerns all phenomena; practitioners open it through calm reflection and meditation.3.- Scriptural Bát Nhã: The clarity and understanding of meanings, profound and mysterious in Buddhist criptures; practitioners achieve it through extensive study, listening, collecting, and researching.
It is called Bát Nhã a boat because wisdom has the miraculous power to guide oneself and others from the shore of delusion to the shore of enlightenment. It is one of the six "Perfections (Paramitas)" commonly practiced by Bodhisattvas. The Master once said:
“The Prajña boat I hold the helm, Determined to take people from the shore of delusion.”
(Diệu Pháp Quang Minh) In the Sutra of Guidance, the Buddha teaches:
“Wisdom (Prajña) is a sturdy boat, not a single wave of desire can sink it; it skillfully takes people across the sea of birth, aging, sickness, and death. It is a miraculous medicine that heals all diseases caused by emotions and the six desires, etc.… It is the utmost radiant torch.
- heavenly mechanisms
MYSTERIOUS PRINCIPLE: Also called 'huyền cơ,' 玄機 meaning the mysterious and profound secret of Heaven. In the work The Mission, the Master wrote: “By the middle of August, I and the Master will signal the Insane, using pen and ink to reveal the heavenly secret…” and: “The moral and mysterious principle teaches one to seek; if not, later it will be difficult to live freely.”
HEAVEN’S MANDATE: The decree of Heaven in the upper realm, that is, the law governing the transformations of creation. The Master once said: “The heavenly secrets of the world are already in motion,” or: “The wondrous and mysterious mechanism convenes at Long Hoa, selecting worthy practitioners with high merit to grant them appropriate positions, as long as they possess virtuous roots to teach the Great Way and establish ranks to create peace for the nations and states.
“Việc thiên cơ Khùng tỏ hết trơn,
Cho trần hạ tường nơi lao lý”.(Q.2)Translation:
For heavenly mechanisms I told you everything,
And let you know where you will be suffering.
(Vol II)
- Bồ-Đề
Tiếng phạn Bodhi. Dịch là Chánh giác hay Giác ngộ. Còn có nghĩa nữa: Đạo lý hay trí tuệ. Đức Thầy có câu: “Lòng bồ đề sắt đá dám kình”.
- Three-Words Sacred Book
The Three Character Classic, also known as Tam Tu Kinh (三·子經)·
In this passage, the Master explains that in the book “Tam Tu Kinh” of the Holy Way, it is taught: The original nature of human beings was once benevolent, and that nature shares the same essence as the Buddha and Heaven. However, due to an unperceived moment, humans created karma and went through the cycle of rebirth, becoming sentient beings. At birth, human mind and nature are innocent, so they do not yet desire anything. Gradually growing up, they are influenced by society around them and become enamored with fame and profit, physical attraction and wealth, committing evil and sinful deeds, causing the innate goodness to be buried.
If humans do not receive moral guidance, who knows whether their corrupt mind can be trained back into goodness. Therefore, the Master earnestly reminds everyone to recall their original benevolent nature (Awakening). And on the path of awakening his followers, regardless of whether people criticize or dislike it, it does not matter.
In the past, the Buddha taught numerous scriptures like forests or seas, but nowadays, very few people understand and realize their meaning. This is because his great disciples recorded them entirely in Sanskrit.
Although
- Sách Thánh đạo
Thánh đạo là sách dạy con người sống theo các mệnh lệnh đạo đức hơn là theo sở dục của mình, như vậy xã hội sẽ bớt đi những người hung ác, ngang ngược, chuyên lừa đảo, thiếu căn hóa, là nguyên nhân của bao nhie3u thảnh cảnh xã hội và gia đình. Sách Tam Tự Kinh ngày xưa được xem là quyển sách tóm lược các điều căn bản, những phương châm cốt lõi để chỉ dạy con người thấm nhuần đạo đức ngay khi chúng còn nhỏ.
- Ngũ-Viên-Kỳ
Xưa, thời Ngũ Đế có quí ông: Ngũ Tử, Hiên Viên và Kỳ Bá, đã dốc hết tâm trí kê cứu các phương thuốc điều trị bệnh nhân. Các Ngài chẳng màng đến sự lao tâm mệt xác, hay lợi lộc miễn sao cho toàn thể dân chúng được an lành.
Sách “Nội Kinh Huỳnh Đế” có chép: Vào thời Ngũ Đế có ba ông: Ngũ Tử, Hiên Viên và Kỳ Bá đem hết trí năng nghiên cứu các thứ bịnh và thí nghiệm những loại thảo mộc, để tìm ra dược phẩm trị bịnh cứu dân, lòng các Ngài chẳng hề mong cầu lợi lạc. Đức Thầy nhắc chuyện nầy để chỉ cho sự giúp đời bất vụ lợi, của những bực đầy lòng vị tha bác ái và cũng khuyên mọi người noi gương từ thiện nói trên.
Chú Giải Sám Giảng (1975)
- Các-Lân
Các là gác, lầu, điện đền nội các, Lân là cửa, bực cửa; nói chung là điện đền lầu các. Ý chỉ chỗ cao sang quyền quí của Vua quan ở. Đức Thầy có câu:“Vào các ra đài tột bực giàu sang”(Sấm Giảng Q.1).
Muốn sau được dựa Các-Lân,
Hãy nên trau sửa hiền-nhân mới là.Thiên-Hoàng mở cửa Các-Lân,
Địa-Hoàng cũng mở mấy từng ngục-môn.Mấy người còn được xác thân,
Thì là Đài-Ngọc Các-Lân mới kề. - Lang-sa
THẦY THUỐC LANG SA: Chỉ cho các Bác sĩ, y tá trị bịnh bằng Âu dược (thuốc Tây).
Đến như ngành Tây y lại còn thâm độc hơn nữa, một số người hành nghề ấy, chẳng những họ cắt cổ lột da lại còn vơ vét tiền bạc, tận xương tủy các bệnh nhân. Thói thường, hễ trung ngôn thì nghịch nhĩ, Đức Thầy khuyên các hạng làm thuốc nói trên, chẳng nên phiền Ngài, mà hãy xét kỹ lại, nên thi thố nhơn nghĩa hơn là tham chứa tiền tài. Bởi tiền bạc không cứu giúp được ta, khi nghiệp quả đã mùi:
“Gẫm kim-tiền bội-bạc bất tài.
Không làm cho ta được sống dai,
Lại chẳng bước tiễn đưa một bước”(Kh/Thiện, Q.5)Danh từ Lang-sa rất có thể chuyển ngữ từ chữ français, nghĩa là người Pháp, thuộc về Pháp quốc.
- Skill, dress-up, language and virtue
The Four Feminine Virtues are:[6][7][8][9]
- Feminine Conduct (婦德; Fùdé)
- Feminine Speech (婦言; Fùyán)
- Feminine Comportment (婦容; Fùróng)
- Feminine Works (婦功; Fùgōng)
Ban Zhao (49–120 CE), the first known female Chinese historian, elaborated on these in her treatise Lessons for Women (Chinese: 女誡; pinyin: Nǚjiè; Wade–Giles: Nuchieh):[10][11]
Speaking about these four, woman's virtue requires neither unparalleled talents nor exceeding brilliance; woman's speech requires neither rhetorical eloquence nor sharp words; woman's appearance requires neither a beautiful nor a splendid look or form; woman's work demands no unsurpassable skills.
Exhibit tranquility (you 幽 [/ qing 清]), unhurried composure (xian 閒/閑), chastity (zhen 貞), and quietude (jing 靜). Safeguard the integrity (jie 節) of regulations. Keep things in an orderly manner. Guard one's action with a sense of shame. In movement and rest, it is always done in proper measure. This is what is meant by woman's virtue. Choose words [carefully] (ze ci 擇辭) when speaking. Never utter slanderous words. Speak only when the time is right; then, others will not dislike one's utterances. This is what is meant by woman's speech. Wash (guan wan 盥浣) clothes that are dusty and soiled, and keep one's clothing and accessories always fresh and clean. Bathe regularly, and keep one's body free from filth and disgrace. This is what is meant by woman's bearing. Concentrate on one's weaving and spinning. Love no silly play nor laughter. Prepare wine and food neatly and orderly to offer to the guests. This is what is meant by woman's work. - Three Obediences
The Three Obediences and Four Virtues (Chinese: 三從四德; pinyin: Sāncóng Sìdé) is a set of moral principles and social code of behavior for maiden and married women in East Asian Confucianism, especially in ancient and imperial China. Women were to obey their fathers, husbands, and sons, and to be modest and moral in their actions and speech.
- Tam tùng
Ba điều nên theo của hàng phụ nữ, hay là ba phận sự chánh thức của người đàn bà đối
với gia đình. Theo Nho giáo:“Tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử”. Đức Thầy từng
dạy:
“Nghe lời cha mẹ cân phân,
Tam tùng vẹn giữ lập thân buổi này”.
Tam Tùng gồm có:Tùng phụ: người con gái lúc chưa chồng, còn nương theo cha mẹ, tức thời kỳ đáp ơn. Bổn phận con gái phải siêng năng vén khéo mọi công việc bếp núc, thêu thùa, may vá. Đối với ông bà cha mẹ đầy lòng hiếu thảo, với cô bác chòm xóm lễ độ khiêm cung; hòa hảo với anh chị, thương yêu dạy bảo em cháu.
Khi xuất giá theo chồng, nên biết tánh ý chồng để chìu theo. Chồng muốn làm việc đạo nghĩa chơn chánh nên nung đúc, còn muốn làm việc tà vạy, hư hèn thì khuyên ngăn. Phải sạch, khéo mọi công việc nội trợ, đừng để phiền đến chồng những việc quá nhỏ mọn.
Nếu gặp việc chẳng may, chồng chết sớm, vợ nên thủ tiết nuôi con cho đến khi nhắm mắt theo chồng; bằng không được cũng phải đợi mãn kỳ tang khó mới tái giá.
Chú Giải Sám Giảng (1975)
- Công, dung, ngôn, hạnh
Nghĩa của chữ “Tứ đức”, tức là bốn đức hạnh. Đó là bốn điều dạy nữ giới phải vẹn gìn theo khuôn thước của Đạo làm người.
“Hãy xem xưa, những bực dâu hiền,
Kiêm tứ đức: Công, Dung, Ngôn, Hạnh”
(HĐ: Không rõ xuất xứ).Nghĩa của chữ “Nhân Đạo” tức mỗi người phải đối xử lẫn nhau cho được hài hòa tốt đẹp, nếp ăn thói ở đều biết tôn ti trật tự: Nam có Ngũ luân, Ngũ thường; Nữ có Tam tùng, Tứ đức. Trong bài “Luận Về Tam nghiệp”, Đức Thầy có dạy:“… Đạo của con người kêu bằng Đạo Nhân và nó cũng là một con đường, đi trúng thì sống, bước trật thì chết…”
Cái nguyên lý Đạo đức của con người và lý lẽ của Đạo Nhân luân, tức là đạo làm người, gồm có “Ngũ Luân, Ngũ Thường và Tam Tùng, Tứ Đức”. Ăn ở đúng theo luân lý tức là đối xử cho tròn cái đạo làm người. Ngài Mạnh Tử bảo:“Nội tắc phụ tử, ngoại tắc Quân thần; nhân chi đại luân giả”.(Bên trong thì đạo cha con, bên ngoài là đạo vua tôi, đó là giềng mối lớn của đạo làm người).
Trong Sấm Giảng Q.3, Đức Thầy cũng dạy:
“Nào là luân lý Tứ ân,
Phải lo đền đáp xác thân mới còn”.Trích Chú Giải Sám Giảng (1975)
- Vô duyên
VÔ DUYÊN: Cũng gọi là vô doan. Có nghĩa: trơ trẽn, tẻ lạt, không duyên dáng lễ độ…Ví dụ: ăn nói vô duyên. Ca dao có câu:“Vô duyên chưa nói mà cười, Chưa đi mà chạy hỡi người vô duyên”
Trái với vô duyên là HỮU DUYÊN: Có căn duyên (tiền duyên), trái với vô duyên. Gặp gỡ nhau mà hợp ý với nhau gọi là có tiền duyên. Tục ngữ thường nói:“Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng”(Có duyên ngàn dặm cũng gần, Không duyên dầu gặp mấy lần cũng xa). Về việc Đạo thì những ai có căn duyên với Phật pháp, khi gặp Phật hoặc giáo lý của Ngài liền kính tin hành thiện.
Bằng vô duyên thì dầu Phật đứng trước mặt hay ở sát bên, cũng không hề tin nghe. Khế Kinh đã bảo:“Thuốc không trị được bịnh tới số, còn Phật chỉ độ những ai có duyên lành”(Dược y bất tử bịnh, Phật hóa hữu duyên nhơn). Đức Thầy thường cho biết:
“Duyên lành rõ được Khùng Điên,
Chẳng qua kiếp trước thiện duyên hữu phần”.
(Viếng Làng Mỹ Hội Đông) - dưa muối
Trong nghĩa bóng, việc đối xử giữa anh em cần biết kính thuận lẫn nhau, tình nghĩa luôn đậm đà thương mến, không nên vì hoàn cảnh riêng tư, hay sang hèn mà thay lòng phụ nghĩa. Tuy là trời đất mênh mông, nhưng lời nói riêng của mỗi người trong thế gian, Trời nghe như sấm nổ, còn lòng tính quấy trong nhà kín, song mắt của Thần Thánh thấy rất rõ ràng.(Nhơn gian tư ngữ Thiên văn như lôi, Ám khuất khuy tâm Thần mục như điển – sách “Minh Tâm Bửu Giám”.)
Theo nghĩa đen, dưa muối (dưa cải) là một loại rau cải được làm chua, thường được sử dụng làm món phụ trong các bữa tiệc Tết Nguyên Đán. Dưa muối có vị cay và đắng khi tươi, nhưng khi được làm chua, nó sẽ có vị ngon và cân bằng cho các món ăn khác. Cách chế biến dưa muối rất đơn giản, nhưng cần thời gian và sự kiên nhẫn. Sau Tết, bạn có thể sử dụng dưa muối để làm các món ăn như canh dưa chua hoặc các món ăn khác.
- Loạn-luân
LOẠN LUÂN: Làm rối loạn luân thường đạo lý, lấy một người trong bà con, thân tộc mà phong tục và luật pháp nghiêm cấm, là bị tôi loạn luân.
CANG KỶ: Cũng gọi là cương kỷ hay kỷ cương, có nghĩa: giềng mối trong luật lệ, tức là trật tự, ngăn nắp của gia đình, đoàn thể, xã hội, quốc gia. Ví dụ: Ăn ở phải có kỷ cương.Đức Thầy nói trong bài “Cảm Tác”:
“Có đâu như thể bây chừ,
Loạn luân cang kỷ bất từ bất lương”. - Nghiêm-đường
NGHIÊM ĐƯỜNG: Người cha. Người Việt Nam đang ở chế độ phụ quyền (người cha là gia
trưởng). - Rạch-Ni Liên-Thuyền
Cũng viết là Ni Liên Thiền (Phạn ngữ: Nairânjânâ), Tàu dịch là Bất lạc trước hà, có nghĩa: con sông chẳng đắm nhiễm dục lạc. Vốn là một con sông nằm gần núi Tượng Đầu, xóm Ưu-Lâu-Tần-Loa, thuộc nước Ma-Kiệt-Đà (Ấn Độ). Trước khi tịnh tọa dưới cội Bồ Đề, Đức Thích Ca có xuống rạch Ni-Liên-Thuyền tắm rửa sạch sẽ. Do đó, người đời sau thường tán tụng nước ở con sông nầy có diệu năng rửa sạch mọi điều nhơ bẩn (Ni Liên hà lý, phi hữu cấu nhi kiến trừ).[sách Pháp Huyễn Châu Lâm].
- Asita
A TƯ ĐÀ: Sanskrit name Asita, a Brahmin sage, who had attained the state of a seer, was the most renowned in the region. He was summoned by the king to the palace to examine the fate of Crown Prince Siddhartha.
To the surprise and anticipation of the king and everyone present, the sage A Tư Đà presented his account: According to his observation, the entire body of the Crown Prince possessed all 32 extraordinary auspicious marks, which until now were only found in a Wheel-Turning Sage King or a Buddha. He predicted that: If in the future the Prince ascends the throne, he would reach the status of a Wheel-Turning Sage King, and by renouncing the world to practice asceticism, he would surely attain the state of Perfect Enlightenment. However, it was certain that upon reaching maturity, the Prince would leave the golden palace and throne, face all hardships, and dedicate himself to seeking the true Path in order to save beings from suffering.
This is the lament of A Tư Đà, who said that he lacked merit, and therefore he faced one of the eight calamities, being born before (or after) the coming of a Buddha, and thus did not have the chance to live to see the day the Buddha would teach the Dharma.
Just as the prophecy of this Brahmin foretold, as he grew up, he was not like other young people, always absorbed in deep contemplation, despite the king remembering the words of the ascetic and trying every way to make him forget his mission, arranging all kinds of entertainments, but in the end, he still resolutely left the palace..
- A-Tư-Đà
A TƯ ĐÀ: tên Phạn ngữ là Asita, một vị đạo sĩ Bà La Môn, được chứng quả Tiên, có tiếng nhất trong vùng. Ông được vua cha cho mời vào cung để xem tướng mệnh của Thái Tử Tất Đạt Đa.
Trước sự ngạc nhiên, chờ đón của Vua và mọi người, Tiên nhơn A Tư Đà trình bày tự sự: Theo Ông nhìn rõ thì toàn thân của Thái Tử có đủ 32 tướng hảo khác thường, xưa nay chỉ có vị Chuyển Luân Thánh Vương và Phật mới được như vậy. Ông đoán rằng: Nếu sau này Hoàng Tử nối ngôi sẽ làm đến bậc Chuyển Luân Thánh Vương, bằng đi tu ắt đạt thành quả vị Chánh đẳng Chánh giác. Nhưng phần chắc là tới tuổi trưởng thành Thái Tử sẽ lìa bỏ cung vàng ngôi báu, thách đố mọi gian khổ, xả thân tìm chánh Đạo hầu cứu khổ cho chúng sanh.
Đây là lời than tiếc của ông A Tư Đà, rằng ông thiếu phước nên ông mắc phải một trong 8 nạn (cảnh) là sanh trước (hoặc sau) một vị Phật ra đời nên không có cơ hội s61ng đến ngày Đức Phật ra đời dạy đạo.
Đúng như lời tiên tri của vị Bà La Môn này, càng lớn lên, ngài không giống như các người trẻ khác, lúc nào cưng trầm tư mặc tưởng, mặc cho nhà vua nhớ đến lời của vị tu sĩ, đã tìm mọi cách để cho ngài quên đi sứ mạng của mình, nên bày trí tất cả các cuộc vui chơi, nhưng sau cùng ngài vẫn cương quyết rời hoàng cung.
- loyalty and filial piety
Because of the phrase 'Loyal to the King, Filial to Parents.' Wholehearted loyalty to the nation is called loyalty; respect, care, and obedience to parents is called filial piety. Loyalty and filial piety are two of the Four Great Graces. The Master observed that nowadays few people fully uphold Filial Piety and Loyalty, so He often advises:
"Some’s marital bond is a disgrace,
Others’ loyalty and filial piety both fail."
(Oracle Vol I)
The men need to learn how to gain wizardry,
Loyal and filial, they uphold the morals,
(Oracle Vol V)
- trung-hiếu
TRUNG HIẾU: Do câu “Trung Quân Vương, Hiếu Phụ Mẫu”. Một dạ trung thành với Tổ quốc gọi là trung; lòng tôn kính, bảo dưỡng và vâng lời cha mẹ gọi là hiếu. Trung và hiếu là hai trong Tứ Đại Trọng Ân. Đức Thầy nhận thấy con người hiện nay ít ai giữ vẹn được Hiếu Trung nên Ngài thường khuyên:
“Ham vui đào mận chẳng xong rồi,
Trung hiếu vẹn gìn phận con tôi”.
( Để Chơn Đất Bắc )"Đứng nam-nhi học lấy điều khôn,
Lòng trung-hiếu gìn theo đạo-lý. "
(Sám Giảng Q. 5)
- recompense
To conclude the book “Sermons Advising People to Practice Meditation,” the Supreme Teacher lets everyone know that the teachings herein have enough miraculous power to help sentient beings advance to a splendid glory. Because He has clearly outlined the path of meditation practice, whoever diligently follows it will surely achieve their wishes.
- thrifty and frugal
This passage means that out of compassion, the Dharma Master teaches the people a lot, not for money, yet there are many who dislike it. He advises everyone, even if they go to work in distant fields, to bring along the Sutras, so that during free time they can read and understand the meaning, aiming to practice accordingly.
It is sad for those who are poor, their hands covered in mud, living a life of hardship and toil throughout the year; seeing the wealthy living in luxury, they are very envious, but who would have foreseen:
"The workings of heaven change every minute,
Paths of prosperity and decline are like flying arrows,
The way of honor, shame, and misfortune comes in an instant."Though today things seem peaceful and comfortable, who knows if tomorrow will bring chaotic sadness. The Dharma Master further explains: in the future, the cruel will witness the accumulation of sorrow and suffering in quick succession. Out of great compassion for the people, He carefully instructs everyone to diligently recite the Buddha's name frequently and to know how to be frugal and industrious, reducing extravagance and waste, because the situation:
"Poverty and hunger will be known from now on,
Foreign products will besiege Us with a pression."
THE SIX REALMS: The six realms of samsara, including: 1- The heavenly realm, 2- The human realm, 3- The demi-god realm, 4- The beast realm, 5- The hungry ghost realm, 6- The hell realm. In Tỉnh Thế Ngộ Chơn, there is a verse: “The six realms revolve through countless lifetimes, One must carefully cultivate goodness to avoid the suffering of birth and death.”
- lo-lường
Đoạn nầy ý nói vì lòng từ bi, Đức Giáo Chủ khuyên dạy bá tánh thật nhiều, chớ chẳng phải vì
ham tiền bạc, thế mà cũng bị lắm kẻ chẳng ưa. Ngài khuyên mọi người dầu có đi làm ruộng rẫy
phương xa, cũng nên đem Kinh Giảng theo, để lúc rảnh việc xem coi tìm hiểu nghĩa lý, hầu có thực
hành theo.
Thảm thương cho những kẻ nghèo khó tay lắm chơn bùn, sống cuộc đời cơ cực, vất vả quanh
năm suốt tháng; nhìn hạng người giàu sang sống trong phong cảnh đài các họ rất thèm thuồng,
nhưng nào có ai ngờ trước:
“Máy thiên cơ mỗi phút mỗi thay,
Nẻo thạnh suy như thể tên bay,
Đường vinh nhục rủi may một lát”.
-Tuy ngày nay thấy yên lành sung sướng, nhưng biết đâu ngày mai biến loạn thảm sầu. Đức Giáo
Chủ còn cho biết thêm: rồi đây kẻ tàn bạo sẽ thấy cảnh đau thương sầu khổ dồn đôn tới tấp. Vì lòng
quá thương bá tánh nên Ngài chỉ bày cặn kẽ để khuyên mọi người hãy rán niệm Phật thường xuyên
và biết lo cần kiệm làm ăn, bớt xa hoa phung phí, vì cảnh:
“Nghèo với đói từ đây sẽ biết,
Hàng ngoại bang bố thiết ta hoài”LỤC ĐẠO: Sáu đường luân hồi, gồm có: 1- Thiên đạo (cõi trời), 2- Nhân đạo (cõi người), 3- A Tu La
đạo (cõi thần), 4- Súc sanh đạo (loài thú), 5- Ngạ quỉ đạo (cảnh giới ngạ quỉ), 6- Địa ngục đạo (cảnh
giới địa ngục). Trong Tỉnh thế Ngộ chơn có câu:“Lục đạo luân hồi vạn kiếp trầm,
Tử tế tư lương sanh tử khổ”.
(Sáu đường lăn lộn nhiều muôn kiếp,
Phải rán lo lường tránh chỗ nguy). - đạo-hằng
ĐẠO HẰNG: Đạo thường hằng, tức năm mối Thường Hằng (Ngũ Thường), gồm có: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
-Nhân là lòng hiếu Đạo hay thương người mến vật.
–Nghĩa là biết phải, làm các việc ngay thẳng chơn chánh, hợp với Đạo lý.
-Lễ là biết kẻ lớn người nhỏ, chỗ trọng chỗ khinh, kính người trên, nhượng chỗ dưới, đầy lòng
cung kính chùa miễu lăng mộ.
-Trí là sáng suốt, biết phương kế mưu lược, hiểu rõ việc hư nên tốt xấu, chẳng bị lầm lạc.
-Tín là lòng thành tín, chân thật của con người, không gian dối lừa phỉnh ai.
Đạo Hằng cũng gọi là Đạo làm người.
Đức Thầy có câu:
“Ngũ luân lễ nghĩa năm hằng,
Tam cang trung trực người rằng ngu si”.Đạo: con đường phải; Hằng: thường.
Những phép tắc thường hằng trong đời sống đạo đức rất cần phải tuân giữ. Đạo hằng ở đây chỉ đạo Ngũ thường:
Nhân, Nhĩa, Lễ, Trí , Tín.
“Ngũ luân lễ nghĩa năm hằng,
Tam cang trung trực người rằng ngu si”.
(Để Chơn Đất Bắc) - sycophants
Those who are living on their flattery toward the foreigners. Not a small number among the masses toe the line of the French colonial government for the sake of having a career, a comfortable life, a range of opportunities to get promoted or socio-econmonic conditions, etc, at the expense of their national independence and, worse still, lending hand to the colonial repression of resistance movements. They even become the eye and ear of the French security agencies as informants, to such an extent that they forget their own identity and the shame of a people who lost their sovereignty and self-determination. The French colonial power lost control of their rule toward the end of the World War II, but their divide and rule policy still had adversely affected the unity of nationalist non-communist and the communist movements against them. Thus, the supporters of the French colonial rule were not always the same across the phases of the French domination as some of them deserted and joined the nationalist resistance movement or became uncooperative. Master Huynh recognized this sheer challenge to the Vietnamese youth facing the need for education, training and work under the colonial rule yet who did not find it easy to have these opportunities if they were not submissive to the colonial power.
- tà-tây
LÀM VIỆC TÀ TÂY: Làm việc theo lũ Tây tặc (giặc Pháp). Đây chỉ cho người mãi a dua làm việc
với Pháp để kiếm chút quyền oai bổng lộc. Đức Tôn Sư thường thống trách những hạng người ấy:
“Sớm lo lòn cúi, chiều ăn ngủ,
Nào biết tính toan gỡ nợ nần”.
(Rứt Cái Ngu Đần) - streamer is white
The failure to uphold the spirit following an improper worship rituals made people forget their duty to resist foreign invaders, allowing the French to invade our country. The patriotic figures during the Nguyễn Era (1862) called the Western European invaders
'White Hordes' (white-skinned people) in these two lines of poetry:
'On the full moon day of the Rooster year in the first month,
When the White Hordes (Đàn Bạch Quỷ) appear, they immediately spread havoc.'And in twelve lines of poetry praising the anti-French spirit of the Grand General of Bình Tây (Trương Công Định), Ông Đồ Chiểu (Scholar Chieu) wrote:
'Traces of bullets pierce the Bạch Quỷ ships,
With swords, they further highlight the grandeur of Huỳnh Môn.'Excerpt from Chú Giải Sám Giảng (1975)
- cờ trắng phau
Việc bỏ quên tinh thần theo sau cách thờ phượng không đúng nghi thức làm người ta quên đi bổn phận chống giặc ngoại xâm, khiến cho giặc Pháp đến xâm lăng nước ta. Các nhà yêu nước thời Nguyễn (1862)gọi quân giặc Tây Âu là “Đàn Bạch Quỷ”(người da trắng) qua hai câu thơ:
“Ngày rằm năm Dậu tháng giêng,
Có Đàn Bạch Quỷ nó liền bủa giăng”.
Và trong 12 câu thơ ca ngợi tinh thần chống Pháp của Bình Tây Đại Nguyên Soái (Trương CôngĐịnh) cụ Đồ Chiểu có viết:
“Dấu đạn hỡi rêm tàu Bạch Quỷ,
Hươi gươm thêm rạng vẻ Huỳnh Môn”.
Trich Chú Giải Sám Giảng (1975)
- Hạng-Võ
HẠNG VÕ: 項羽 hay Hạng Vũ, người ở Hạ Tượng, thuộc Cối Kê (Trung Hoa) tên là Tịch, sức mạnh cử cái đỉnh ngàn cân. Vào thời Tần Sở không ai đánh lại. Trong cuộc diệt nhà Tần, vì tánh háo sát mà không được lòng quân dân nên vào Bá Tượng (Hàm Dương) sau Lưu Bang. Hạng ỷ mạnh phụ lời ước hẹn, giành làm vua Tây Sở Bá Vương và đẩy Lưu Bang (Hán Trung Vương) vào Bao Trung. Sau Võ phải đánh với binh Hán ròng rã 6 năm, bao phen phải thất điên bát đảo trước tài chỉ huy mưu lược của Hàn Tín, rốt cuộc Hạng Võ phải bỏ mình tại bến Ô Giang (烏江).
Đoạn giảng trên Đức Thầy nhắc tích Hàn Tín và Hạng Võ là hai bậc kỳ tài đất Trung Hoa. Nhận thấy tuy Hạng Võ có sức địch muôn người, binh hùng, tướng dõng ồ ạt, nhưng lại dùng bạo lực theo bá đạo (dĩ lực trị dân giả bá), nên kết cuộc phải thất bại chua cay.
-Còn Hàn Tín tuy yếu sức, nhưng có tài thao lược, đức nhẫn cao, lại theo kế hoạch của Trương
Lương và chủ trương đường lối vương đạo của Lưu Bang (dĩ đức trị dân giả vương) nên sau được
toàn thắng.
Ở đây Đức Thầy muốn nêu lên đức nhẫn nhục của Hàn Tín, mặc dù Tín thừa sức trừ bọn thiếu
niên tại
chợ Hoài Âm nhưng lúc chưa phải thời cơ Tín đành ẩn nhẫn:
“Gương trước Hớn Tần, Hàn Tín nhẫn,
Đã không khổ nhục khỏi ưu phiền”.
(Nhẫn Đợi Thời Cơ)Trích Chú Giải Sám Giảng (1975)
- Xiang Yu
XIANG YU: 項羽 A person from Xia Xiang, belonging to Qi Ji (China) named Xi, with the strength to lift a thousand-pound cauldron. During the Qin and Chu era, no one could defeat him. In the campaign to destroy the Qin dynasty, because of his bloodthirsty nature, he did not gain the support of the people, so he followed Liu Bang into Ba Xiang (Hanyang). Xiang relied on his strength to break promises, declared himself King of Western Chu, and pushed Liu Bang (King of Han Zhong) into Bao Zhong. Afterward, Xiang had to fight the Han army for six years, repeatedly being defeated by the strategic and tactical brilliance of Han Xin. In the end, Xiang Yu met his demise at the Jiang River (Ô Giang).
Xiang Yu (c. 232 – c. January 202 BC),[1] born Xiang Ji, was a Chinese warlord who founded and led the short-lived kingdom-state of Western Chu during the interregnum period between the Qin and Han dynasties known as the Chu–Han Contention (206–202 BC). A nobleman of the former state of Chu, Xiang Yu rebelled against the Qin dynasty under the command of his uncle Xiang Liang, and was granted the title of "Duke of Lu" (魯公) by King Huai II of the restoring Chu state in 208 BC. The following year, he led an outnumbered Chu army to victory at the Battle of Julu against the Qin armies led by Zhang Han. After the fall of Qin, Xiang Yu divided the country into a federacy of Eighteen Kingdoms, among which he was self-titled as the "Hegemon-King of Western Chu" (西楚霸王) and ruled a vast region spanning central and eastern China, with Pengcheng as his capital.
Although a formidable warrior and tactician, Xiang Yu was poor in both diplomacy and strategy, especially after dismissing his own adviser Fan Zeng. He was later outcompeted by his main rival Liu Bang during the massive civil war among the rebel kingdoms, which concluded with his eventual defeat and suicide in a last stand at the Battle of Gaixia. The demise of Xiang Yu allowed Liu Bang to subsequently become the founding
- Buddhaland
Buddha land in this case is transliterated from the term Thiên Trước, in Vietnamese, and from Tianzhu, in Chinese, meaning India..
Tianzhu, 天竹, also known as 'Tianzhu' (Heavenly Pillar), which is the term used in East Asia for India, and in a broad sense, it also refers to the entire South Asian subcontinent. In some ancient texts or legends, because Buddhism originated in the country of Tianzhu, Tianzhu is sometimes referred to as the Western Heaven. The term 'Western Heaven' itself can also be used to indicate the place where the sun sets in the west, the destination of the deceased, India, and the Western Pure Land. This situation gives the concept of the Western Heaven a sense of mystery in people's minds, and in ancient times, people referred to this place as the Western world.
- Boat of Insight
BÁT NHÃ THOÀN: Also read as the Prajna boat. Prajna is the transliteration of the Sanskrit (Scr.) word Prajna, a special noun in Buddhist doctrine that encompasses many meanings, concisely translated as Wisdom, which is pure and clear insight. Prajna again has 3 kinds:
1.- True Prajna: The bright, intrinsic intelligence that is constantly present and unchanging in every sentient being (teacherless knowledge).
2.- Contemplative Prajna: The discerning, penetrating mind that thoroughly distinguishes phenomena, which the practitioner opens through calm reflection and meditation.
3.- Textual Prajna: The clarity and understanding of the meanings and profound mysteries within Buddhist scriptures; the practitioner attains insight through extensive study, listening, collecting, and researching.
The reason Prajna is called a boat is that wisdom has the miraculous ability to carry oneself and guide beings from the shore of delusion to the shore of enlightenment. It is itself one of the six 'Paramitas' that Bodhisattvas commonly practice. The Master once said:
'I hold the helm of the Prajna boat,
Determined to bring people from the shore of the river of delusion.'(Diệu Pháp Quang Minh)
In the Sutra of Instruction, the Buddha taught: 'Wisdom (Prajna) is a sturdy boat, bo wave of lust can overthrow it, it often leads people away from the sea: birth, aging, sickness, death. It is a miraculous medicine that heals all diseases of emotional disturbances, the six desires, etc. It is the brightest torch, illuminating and dispelling the layers of delusive ignorance. It is the sharp hammer (sword) that severs the root of afflictions and wrong views…” The Master currently also says: "The sword of wisdom cuts through the obstacles of karma, in front of the Buddha there is eternal peace." (Hiếu Nghĩa Vi Tiên) Because of the wondrous power of Prajna wisdom, He says: "One must give up the body in search of complete Prajna." (Kệ Dân, Vol.2) Excerpt from Chú Giải Sám...
- Southern-model woman
NAM TRÀO: Also read as Nam triều, meaning the court of the Nam dynasty. “Gái Nam Trào” refers to a girl who currently maintains her chastity, which makes her worthy of being a subject of Vietnam in the future.
TIẾT TRINH: Also read as trinh tiết, meaning the purity of women, who cannot love any man other than their official husband: “A girl with chastity and happiness is a phrase to cultivate oneself” (Lục Vân Tiên).
LỜI THÁNH HIỀN: Refers to the teachings of Confucius and the sages who inherited his moral principles. These words are included in the Five Classics: Book of Changes, Book of Songs, Book of Rites, Spring and Autumn Annals, and the Four Books (Four texts: Great Learning, Doctrine of the Mean, Analects, Mencius). Among them are countless words teaching people to cultivate themselves in order to become sages like them. - Six Provinces
The Master observed that throughout the six southern provinces, there were many people practicing religion improperly, whose greed and ego had not been eliminated, and who only cared about creating deceptive things to exploit the trust of the common people. If one practices the Way in this manner, the more one practices, the deeper one sinks into the cycle of six realms of reincarnation, with little hope of achieving liberation. As in the article “On Practicing,” He wrote: “The world is full of deceitful people, which religion would then look to the gates of meditation?”
The Six Provinces of Southern Vietnam, also known as Nam Kỳ Lục tỉnh, were a historical division of the region before the French colonial period. These provinces were established by Emperor Minh Mạng in 1832 and were part of the Nguyễn dynasty's administrative reforms. The provinces are often subdivided into two groups: the eastern provinces of Gia Định, Định Tường, and Biên Hòa; and the western provinces of Vĩnh Long, An Giang, and Hà Tiên. The French occupied three eastern provinces in 1862 and eventually annexed all six provinces in 1867, establishing the colony of French Cochinchina
- Sáu-Tỉnh
Đức Thầy nhận thấy khắp sáu tỉnh miền Nam có lắm kẻ tu hành không đúng cách, lòng tham lam vị
ngã chưa diệt trừ, chỉ lo tạo những điều mị dối, để lợi dụng lòng tin tưởng của bá tánh. Nếu hành
đạo như thế thì càng tu càng chìm trong luân hồi lục đạo, mong gì được thành quả giải thoát. Như
trong bài“Luận Việc Tu Hành”, Ngài có viết:“Trần gian đầy dẫy người làm dối, Đạo cả nào trông đến
cửa thiền”.Sáu tỉnh Nam Kỳ, còn được biết đến với tên gọi Nam Kỳ Lục tỉnh, là một phân chia lịch sử của khu vực này trước thời kỳ thuộc địa Pháp. Những tỉnh này được Hoàng đế Minh Mạng thành lập vào năm 1832 và là một phần của các cải cách hành chính dưới triều Nguyễn. Các tỉnh này thường được chia thành hai nhóm: các tỉnh phía đông gồm Gia Định, Định Tường và Biên Hòa; và các tỉnh phía tây gồm Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Pháp chiếm giữ ba tỉnh phía đông vào năm 1862 và cuối cùng sát nhập cả sáu tỉnh vào năm 1867, thành lập thuộc địa Đông Dương thuộc Pháp.
- Tần-Hoàng
Thời gian trước đây, có lúc Ngài dạy Đạo cứu dân ở đất Miên, bởi thấy vua tôi nước nầy sắp vương
cảnh khổ. Nay vì quá thương dân tộc Việt Nam nên Ngài trở lại đất nước nầy khai truyền chánh Đạo,
hầu giúp cho thiện nam tín nữ rõ thông đường lối tu hành.CAO MIÊN: Cũng đọc là Cao Mên, tức là tên cũ của nước và dân tộc Cam Bốt, dịch âm chữ Khmer.
Tên Cam-Bốt (Cambodge) thay cho tên “Cao Miên” (bị Quốc Hội nước ấy hủy bỏ).
TẦN HOÀNG: Ám chỉ Vua nước Cao Miên. Trong Giảng 11 hồi, ông Sư Vãi Bán Khoai có nói:
“Tôi đâu mà có yên thân,
Bây giờ Phật biểu tôi sang nước Tần.
Mến là mến Đức Hoàng Lân,
Thương là thương lấy vạn dân khổ nàn”.
Giờ đây Phật lại trở về Nam Việt:
“Bấy lâu Phật ở nước Tần,
Bây giờ Phật lại trở lần về Nam”.Trích Chú Giải Sám Giảng (1975)
- South Vietnam
Master Huynh Duc often referred to the words Nam-Viet instead of Viet Nam. There are some reasons we can guess that these words referred to the land that the French called Nam Ky Luc Tinh, or Cochinchina. The areas he traveled for missionary work and the documents he left behind talk about six southern provinces, as in the first volume of 'Sam Giang,' titled 'Di Dao Luc Chau.'
- Võ-Vương
VÕ VƯƠNG: tức là Châu Võ Vương. Ông tên thật là Cơ Phát con thứ hai của Văn Vương đời nhà Châu. Khi Văn Vương lâm bịnh nặng kêu Cơ Phát lại dặn rằng:“Con hãy nhớ lời cha dạy: Thấy việc lành thì làm cho mau, xử việc phải chẳng nên lần lựa, tránh việc quấy đừng vương vấn. Ba điều ấy là sửa mình trị dân yêu nước”. Cơ Phát cúi lạy mà vâng lệnh. Khi Văn Vương qua đời, chư hầu và bá quan đồng tôn Cơ Phát lên nối ngôi nhà Châu, xưng là Châu Võ Vương, noi theo cha làm điều nhân đức, trị an một cõi, các trấn chư hầu đều phục. Võ Vương phong Tử Nha làm Thừa tướng và sau tôn lên hàng Thượng phụ.
Khi Trụ Vương bạo ngược, 800 trấn chư hầu đồng phò Võ Vương hưng binh phạt Trụ. Võ Vương lập đàn bái tướng phong Tử Nha làm Nguyên soái điều khiển quân binh. Đạo binh nhân nghĩa đánh đâu thắng đó, tiến vào Trường An vây kín kinh đô, tướng nhà Thương tử trận gần hết. Trụ Vương túng thế phải ra trận, chúa tôi ấu đả trước ngọ môn. Võ Vương thấy vậy than rằng:“Bởi Thiên Tử vô đạo nên mới đến đỗi thế nầy, chúa tôi hỗn chiến với nhau còn chi là thể thống. Tuy bệ hạ bất chánh, mà phận mình là đạo tôi con, không lẽ quân thần mà giao chiến như vậy”. Lúc nầy, các chư hầu đồng rập nhau kéo đến đánh vua Trụ tưng bừng. Trụ Vương bại tẩu chạy về lầu Trích Tinh tự thiêu mà thác.
Chư hầu đồng tôn Võ Vương lên ngôi Thiên Tử, đổi nhà Thương làm nhà Châu. Võ Vương noi chí hướng của Văn Vương mà trị vì, nên thiên hạ âu ca, nhà nhà an lạc. Võ Vương ở ngôi được 7 năm, hưởng thọ 93 tuổi. Nhà Châu trị dân được 874 năm mới dứt.
Xem chú giải @Tây-Bá Hầu
- Tây-Bá
Tây Bá là Tây Bá Hầu. Tên thật ông là Cơ Xương, làm tôi vua Trụ (nhà Thương). Thuở ấy nước Trung Hoa chia làm 4 trấn chư hầu, mỗi trấn cai trị 200 nước nhỏ. Ông là người tài đức gồm đủ nên vua Trụ phong trấn giữ phương Tây (Tây Bá Hầu).
Bấy giờ Trụ Vương sủng ái Đắc Kỷ, nghe lời nàng làm điều trái lẽ: giết chết Khương Hoàng Hậu, lại sợ cha vợ là Khương Hoàng Sở báo thù, nên nghe lời Bí Trọng triệu bốn trấn chư hầu về Kinh giết đi, để trừ hậu hoạn.
Tây Bá được tin xủ quẻ biết đi chuyến nầy bị tù bảy năm. Khi vào đến Triều Ca, Bắc Bá Hầu vốn thuộc phe gian nịnh của Vu Hồn, Bí Trọng nên khỏi chết, còn Đông Bá Hầu và Nam Bá Hầu vì tánh cang cường, mắng Trụ Vương nên bị giết chết. Riêng Tây Bá Hầu, nhờ là người hiền đức và các quan hết lòng can gián mới được tha. Nhưng Trụ Vương chưa vừa ý, sai Vu Hồn Bí Trọng theo dò xét. Tây Bá trình thật câu chuyện chiếm quẻ, nên bị vua Trụ giam vào Dũ Lý.
Thời gian ở Dũ Lý, ông dạy dân lễ nghĩa và làm sách dịch dạy bói quẻ, nên dân chúng xa gần đều mến đức. Ngồi tù gần 7 năm, có con trưởng nam của ông là Bá Ấp Khảo đem báu vật trong nước dâng vua Trụ để cứu cha. (Báu vật gồm: 1. Xe thất hương, không cần người đẩy, muốn đi đâu cũng được. Niệm tình tửu, có công giải rượu. 3. Bạch viên là con vượn biết nhịp và ca rất hay.)
Đắc Kỷ thấy Ấp Khảo đẹp trai nên sanh lòng tà dục, tâu vua cầm ông lại, lấy cớ học đàn để lả lơi trêu ghẹo. Song, Ấp Khảo lòng chánh trực, dùng lời can gián. Đắc Kỷ nổi giận tâu với vua Trụ: “Bá Ấp Khảo có tâm tà không thiệt ý dạy đàn. ”Trụ Vương nghe theo, truyền giết Ấp Khảo và lấy thịt làm nhân bánh bao, đem thử Tây Bá Hầu: “Nếu ông quả là bậc Thánh thì không bao giờ ăn thịt con, nên giết đi; bằng ăn thịt con, là người tầm thường, sẽ được tha về”.
Lúc đó Tây Bá biết trước, nên thương trách Ấp Khảo, sao không nghe lời cha dặn, để đưa tới tình trạng này, rốt lại ông phải nén lòng ăn thịt con để được tha. Khi đó, có Tán Nghi Sanh là quan của Tây Bá, đem vàng bạc hối lộ cho Vu Hồn Bí Trọng cứu được... - tây-tà
TÀ TÂY: Làm những việc riêng tư, tà vạy lén lút dối trá, có lợi cho mình mà hại cho người khác. Nghĩa
bóng là chỉ những người chạy theo làm việc cho Pháp, có hại cho dân cho nước. Đức Thầy từng khuyên:
“Cứ lo làm việc tà tây, Bắt ngưu bắt cầy đặng chúng làm ăn.
"Chừng đau niệm Phật lăng xăng,
Phật đâu cứu kịp lòng người ác gian”. - Hue Luu
HUỆ LỰU: Also called Huệ Lưu. Huệ means clarity and insight. Lưu (Lựu) means flowing, implying that the words of the Dharma flow like water, cooling the souls of all beings. Therefore, Huệ Lựu is a person with enlightened wisdom, understanding all things in the universe, comprehending both matters and principles, both worldly and transcendent truths. Nothing can obstruct them, like water that flows everywhere and refreshes all it touches. Huệ Lựu is the title of the Master (Mr. Khùng). In the 11th installment of the Prophetic Sermon, the monk Vãi Bán Khoai said:
"Huệ Lựu wholeheartedly needs to take care,
Flowing to transmit the origin so the people understand."
Or:
"Huệ Lựu explains the meaning in several lines,
Praying for the young and old to discuss self-cultivation."HUỆ TÂM: A mind that is clear, pure, and free from subtle afflictions, reserved for those who have attained 'Tha Tâm Thông.' The Master once said:
"Huệ Tâm opens words and conveys mysterious communication."
(For Mr. Tham Tá Ngà)
Or:
"The mind is clear like a moonlit mirror,
Nature pure like springtime jasper water."
(Giác Mê Tâm Kệ, Vol.4)
Huệ Tâm here is the title of the Disciple (one of the three servants who followed The Master saves everyone). At the beginning of Spring in the year of Kỷ Mão (1939), Master Ba Thận in Phú Lâm brought the phrase 'The master is Huệ Lựu, the servant is Huệ Tâm' to ask the Master, and He answered: 'That is the title of a teacher and a disciple.' For example, I am Master Tư Hòa Hảo, and he is Master Ba in Phú Lâm, nothing difficult to understand. (The Master usually referred to His disciples using 'I' and 'You,' 'I' and 'Mr./Mrs.' As for Master Ba Thận, he was a teacher of Confucian studies named Thận Trích Chú Giải Sám Giảng (1975)). - Huệ-Lựu
HUỆ LỰU: Cũng gọi là Huệ Lưu. Huệ là minh mẫn sáng suốt. Lưu (Lựu) là trôi chảy, ý nói ngôn từ
pháp giáo tuôn ra như dòng nước chảy thấm mát tâm hồn của vạn loại chúng sanh. Vậy Huệ Lựu là
người có Trí Huệ sáng mầu thông suốt tất cả sự vật trong vũ trụ, thấu đạt cả sự lẫn lý, cả pháp thế
gian và xuất thế gian. Không vật nào ngăn ngại được như tánh chất của nước nơi nào cũng chảy tới
và thấm mát được cả. Huệ Lựu là danh hiệu của Ông Thầy (ông Khùng). Trong Sấm Giảng 11 hồi, ông
Sư Vãi Bán Khoai đã nói:
“Huệ Lựu hết dạ cần lo,
Lưu truyền một bổn sao cho dân tường”.
Hoặc là:
“Huệ Lựu diễn nghĩa mấy hàng,
Cầu cho già trẻ luận bàn tu thân”.
HUỆ TÂM: Tâm trí sáng suốt trong sạch, chẳng còn vi tế phiền não, chỉ cho bậc đã chứng đắc
“Tha Tâm Thông”. Đức Thầy từng nói:
“Huệ Tâm khai ngữ chuyển huyền thông”.
(Cho Ông Tham Tá Ngà)
Hoặc là:
“Tâm sáng suốt như đài nguyệt kiếng,
Tánh trong như nước bích mùa Xuân”.
(Giác Mê Tâm Kệ, Q.4)
Huệ Tâm ở đây là danh hiệu của Ông trò (một trong 3 ông tớ theo Đức Thầy độ chúng).
Vào đầu Xuân năm Kỷ Mão (1939) Thầy Ba Thận ở Phú Lâm có đem câu giảng “Thầy thì Huệ Lựu
tớ thì Huệ Tâm” hỏi Đức Thầy, thì Ngài trả lời rằng;“ Đó là danh hiệu của một ông thầy và một ông
đệ tử”. Ví dụ như tôi là Thầy Tư Hoà Hảo, còn ông là Thầy Ba ở Phú Lâm, chớ có gì đâu mà khó hiểu.
(Đức Thầy xưng hô với các đệ tử thường dùng chữ Tôi và Ông, Tôi và các Ông Bà. Còn Thầy Ba Thận
là ông Thầy dạy chữ Nho tên ThậnTrích Chú Giải Sám Giảng (1975)
- huyền-bí nơi cơ
HUYỀN BÍ: Sự mầu nhiệm bí ẩn, sâu kín
Đức Thầy khuyên bá tánh, ai muốn gặp nơi an lành cao quí, hãy mau nghiên cứu suy tầm
những lẽ mầu nhiệm trong Sấm Kinh của Ngài đã dạy. Vì trong ấy có hàm chứa luật cơ mầu biến
chuyển của trời đất và yếu pháp tu hành.Nguyên văn:- "Cảnh trần-gian nhiều nỗi lao-lung,
- Việc tu tỉnh ít người hiểu lý.
Trong bá tánh muốn nơi cao quí,
Phải truy tầm huyền-bí nơi cơ.
Từ sấm kinh cho đến thi thơ, - Trong chốn ấy nhiều nơi trọng yếu."
- (Gác Mê Tâm Kệ)
- Lão Giáo
Còn gọi là Đạo giáo (tiếng Trung: 道教) (Đạo nghĩa là con đường, đường đi, giáo là sự dạy dỗ) hay gọi là Tiên Đạo, là một nhánh triết học và tôn giáo của Trung Quốc, được xem là tôn giáo đặc hữu chính thống của đất nước này. Nguồn gốc lịch sử của Đạo giáo được xác nhận nằm ở thế kỉ thứ 4 trước CN, khi tác phẩm Đạo Đức kinh của Lão Tử xuất hiện. Các tên gọi khác là Lão giáo, Đạo Lão, Đạo Hoàng Lão, hay Đạo gia, Tiên Giáo.
- Khổng Giáo
Nho giáo (chữ Hán: 儒教) hay Nho gia (chữ Hán: 儒家), còn gọi là đạo Nho, đạo nhân/nhơn hay đạo Khổng, là một hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết lý giáo dục và triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội hài hòa, trong đó con người biết ứng xử theo lẽ phải và đạo đức,[1] đất nước thái bình, thịnh vượng.[2][3]
Nho giáo rất có ảnh hưởng tại ở các nước thuộc vùng văn hoá Đông Á là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Hàn Quốc và Việt Nam. Những người thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho, Nho sĩ hay Nho sinh.
- Đệ Tam Quốc Tế
Quốc tế Cộng sản, còn gọi là Quốc tế III hay Đệ tam Quốc tế, là một tổ chức chính trị cực tả theo đường lối chủ nghĩa Marx-Lenin. Tổ chức được thành lập vào tháng 3 năm 1919 ở Moskva và giải tán vào năm 1943. Cương lĩnh hoạt động của Quốc tế Cộng sản là đấu tranh lật đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng hình thức bạo lực cách mạng, thiết lập chuyên chính vô sản. Dưới sự lãnh đạo của Vladimir Lenin, Quốc tế Cộng sản đã tiến hành 7 lần đại hội, qua đó vạch ra chiến lược, sách lược chỉ đạo phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, hậu thuẫn các phong trào giải phóng dân tộc và đề ra biện pháp chống chủ nghĩa phát xít.
- Thánh Địa Hoà Hảo
Huyện Phú Tân
Long Xuyen, the capital city of An Giang province, is a significant urban hub in the Mekong Delta
region of Vietnam. It is known for its rich history, particularly during the time when the
Hoa Hao Buddhist sect was active in the area. The Hoa Hao Buddhists, also known as
Vietnamese Buddhists, practiced a distinct version of Buddhism that was unique to Vietnam.
They were known for their independence and fought against both the Saigon regime and
the Vietcong during the 1950s and ’60s. After the reunification of Vietnam, they were disarmed.
Long Xuyen’s history is intertwined with the Hoa Hao sect, which played a significant role
in the region’s cultural and political landscape.
- Làng Hòa Hảo
Làng Hòa Hảo
trước năm 1975 thường được biết nhiều hơn là thánh địa Hòa Hảo vì đó là nơi phát
xuất Đạo Phật Giáo Hoà Hảo có số tín đồ sống tạ hẩu hết vùng Đồng Bằng Sông Cữu Long.
Long Xuyên, thủ phủ của tỉnh An Giang, là một trung tâm đô thị quan trọng trong
vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Nó nổi tiếng với lịch sử phong phú,
đặc biệt là trong thời kỳ mà đạo Phật Hòa Hảo hoạt động tại khu vực này. Người theo
đạo Phật Hòa Hảo, còn được biết đến là tín đồ Hòa Hảo, tu tập theo Phật giáo
thuần túy Phật Giáo không trọng hình thức, mà chú trọng đến các giá trị tinh thần,
đạo đức và thực tế, đặc trưng cho văn hóa của một nước Việt Nam không theo chạy
theo văn minh vật chất Tây Phương, hay chủ nghĩa xã hội cực đoan. Tín đồ PGHH
nổi tiếng với tinh thần độc lập và đã chiến đấu chống lại cả chế độ cũ lẫn chủ nghĩa
Cộng Sản nặng về ý thức hệ chuyên chế và đấu tranh giai cấp đẫm máu, trong những
thập niên từ 1945 đến 1975. Ngày 30 tháng 4, 1975, khi Sài Gòn thất thủ, một bộ
phận võ trang, Bảo An Quân của Giáo Phái, đã bị chế độ mới giải tán và ngăn cấm tổ
chức sinh hoạt truyền bá giáo lý như trước năm 1975. Trong một thập niên trở lại,
chính sách tôn giáo của Việt Nam tương đối được nới lỏng. Lịch sử của Long
Xuyên gắn liền với đạo Hòa Hảo, tôn giáo đã đóng vai trò quan trọng trong bối
cảnh văn hóa và chính trị của khu vực.
- Nine Waterfalls
The term Nine Waterfalls mean the passing of a person whose status and seniority are quite high in society/family. This figurative methods of addressing allows for a smoother and less stressful communication between the dead's relative and friends and strangers.
- chín suối
CHÍN SUỐI: Do chữ cửu tuyền. Tương truyền dưới cõi âm phủ có chín cái suối. Cho nên trong văn
chương thường dùng chữ chín suối hay cửu tuyền để chỉ cho cõi âm phủ (Địa ngục):“Ngậm cười chín
suối hãy còn thơm lây.”(Truyện Kiều). - Bà-La-Môn
Bà-la-môn hay Brahmin (chữ Hán: 婆羅門, Tiếng Phạn: ब्राह्मण brāhmaṇa) là danh từ chỉ một đẳng cấp. Đạo Bà-la-môn là một tôn giáo rất cổ của Ấn Độ, xuất hiện trước thời Đức Phật Thích-ca, bắt nguồn từ Vệ-đà giáo (cũng phiên âm là Phệ-đà giáo) ở Ấn Độ, một trong những tôn giáo cổ nhất của loài người. Đạo Bà-la-môn hình thành trên cơ sở Vệ-đà giáo, khoảng 800 năm trước Tây lịch, tức là một thời gian không dài lắm trước khi Phật Thích-ca mở Phật giáo ở Ấn Độ. Đạo Bà-la-môn đưa ra những kinh sách giải thích và bình luận Kinh Véda như: Kinh Brahmana, Kinh Upanishad, Giải thích về Maya (tức là Thế giới ảo ảnh) và về Niết bàn. Đạo Bà-la-môn thờ Đấng Brahma là Đấng tối cao tối linh, là linh hồn của vũ trụ.
- Brahmin
Brahmin (/ˈbrɑːmɪn/; Sanskrit: ब्राह्मण, romanized: brāhmaṇa) is a varna (theoretical social classes) within Hindu society. The other three varnas are the Kshatriya (rulers and warriors), Vaishya (traders, merchants, and farmers), and Shudra (labourers).[1][2][3][4][5] The traditional occupation of Brahmins is that of priesthood (purohit, pandit, or pujari) at Hindu temples or at socio-religious ceremonies, and the performing of rite of passage rituals, such as solemnising a wedding with hymns and prayers.[6][7]
Traditionally, Brahmins are accorded the supreme ritual status of the four social classes,[8] and they also served as spiritual teachers (guru or acharya). In practice, Indian texts suggest that some Brahmins historically also became agriculturalists, warriors, traders, and had also held other occupations in the Indian subcontinent.[7][8][9] Within the jati (caste) system, Brahmins similarly occupy the highest position, though that is complicated by strict stratification even among Brahmins and historical attempts by other castes and sub-castes to challenge Brahminical dominance.[10]
- Bồng-Lai
Tên một hòn đảo ở biển Bột Hải. Các từ điển chép: Trong biển Bột Hải có ba hòn đảo:
1/.Bồng Lai.2/. Phương Trượng.
3/. Doanh Châu.
Nước ở biển này rất yếu nhẹ (nhược thủy) cho đến lông chim rớt xuống cũng không chìm. Trong văn chương thường dùng “non Bồng nước Nhược” để chỉ cho cảnh Tiên (cảnh tiêu diêu thanh thoát) đối với cõi trần đầy tục lụy.
“Bầu trời man mát xa trông,
Biết đâu nước Nhược non Bồng là đâu”. (Cổ Thi)
Đức Thầy cũng viết:
“Cảnh dương trần khó sánh Bồng Lai,
Về Tiên cảnh say mùi rượu Thánh”.
(Diệu Pháp Quang Minh)TIÊN CẢNH NON BỒNG: Cảnh Tiên ở núi Bồng lai. Ở đây ý nói Đức Thầy khai truyền Đại đạo nếu ai tu đúng theo giáo pháp thì được thoát khỏi miền trần tục mà hưởng cảnh tiêu diêu tự tại của Tiên Phật. Bởi giáo pháp ví như thuyền bè, nếu ai chịu bước xuống (vào Đạo) và cố gắng chèo chống (hành đạo) tức sẽ tới bờ bên kia giải thoát. Đức Thầy khuyên nhắc:
“Khuyến dạy dân tình minh đạo đức,
Tu hành được kiến cảnh Bồng Lai”.
(Viếng Non Ông Két) - Biết câu Lục Tự
Sáu chữ này được viết bằng tiếng Trung hoặc tiếng Việt, thực ra tương đương với sáu âm tiết trong các từ phương Tây, vì tiếng Việt và tiếng Trung chỉ có từ đơn âm.
Trong tiếng Việt, sáu chữ là Nam Mô A Di Đà Phật, tương ứng với cụm từ tiếng Trung 南無啊彌陀佛. Trong tiếng Anh, các âm tiết trong cụm từ này là Namaste Amitabha, có vẻ như chỉ có hai từ. Namaste là Nam Mô hay Namo trong tiếng Việt.
Hai âm tiết đầu Namaste rất phổ biến trong việc xưng hô với người khác một cách tôn trọng, là cách chào hỏi lịch sự, và nói danh xưng của người đó. Khi nói những từ này, người ta thường chắp hai tay lại với nhau và cúi đầu. Cách chào hỏi này là một phần văn hóa của một số nước Nam Á, dễ thấy ở Thái Lan, Miến Điện, Campuchea và ít phổ biến hơn ở Việt Nam nơi người lớn thường bắt tay.
Trong bối cảnh văn hóa Đông Á, Namaste Amitabha trở thành câu niệm hàng ngày của tín đồ Phật giáo mà Đức Phật A Di Đà khuyến khích họ siêng năng thực hành.
Sáu Chữ này là câu nhật tụng của một pháp môn do Đức Phật Thích Ca ngay sau khi thành đạo đã truyền bá cho thính chúng mà ngài nói của Đức Phật A Di Đà phát nguyện rằng những ai chuyên tàm niệm danh hiệu của ngài thì khi lâm chung sẽ được ngài rước về Tây Phương an dưỡng, học đạo cho hoàn tất rồi trở lại cứu tế chúng sanh. Đây được xem như phương pháp tu hành thích hợp nhất trong thời kỳ Mạt Pháp, trình độ căn cơ của chúng sanh hầu hết thiểu bạc. Do đó không ít lần trong thời gian hoằng pháp, Đức Thầy đã nhắc nhở tín đồ của ngài về sự thù thắng của pháp môn đương đại này.
DI ĐÀ SÁU CHỮ: Nghĩa của lục tự Di Đà. (Sáu Chữ Nam Mô A Di Đà Phật) danh hiệu của Đức Phật A Di Đà có công năng đưa mình từ bờ mê sang bến giác.
Di-Đà lục tự rán ghi,
Niệm cho tà-quỉ vậy thì dang ra.“Cứu khổ nam-mô vô lượng phước,
Diệt nàn tu-rị hữu thiên kinh”.
(Tỉnh Bạn Trần Gian)Nếu niệm Phật được như thế, tất khỏi cảnh máu đổ thịt rơi trong ngày chiến tranh, tận diệt:
“Chữ lục tự trì tâm bất viễn, Thì lâm nguy có kẻ...
- Six Words
The Six Words are written in Chinese or Vietnamese, in fact, equivalent to the six syllables in the Western words, as the Vietnamese and Chinese language have only a monosyllable word.
In Vietnamese, the six words are Nam Mô A Di Đà Phật which corresponds to the Chinese phrase 南無啊彌陀佛。 In English, the syllables in this phrase are Namaste Amitabha, which look like there are only two words. Namaste is Nam Mo or Namo in Vietnamese.
The first two syllables Namaste are very common in terms of addressing someone with respect, a polite way of greeting, and say the title of the person. Saying these is accompanied by clasping one's two hands together and bowing the head. The greeting style is part of the culture of some South-Asian countries, easily seen in Thailand, Burma, Cambodia and less commonly in Vietnam where adults tend to shake hands.
In the cultural context of Eastern Asia, the Namaste Amitabha become the daily recitation of Buddhists which the Buddha Amitabha encouraged them assiduously to perform so that when they pass. the Buddha will help them to his Paradise called the Pure land.
- cầu Lam
Cũng gọi là Cầu Lam, tức cây cầu bắc qua sông Lam, thuộc huyện Lam Điền, Thiểm Tây (Trung
Hoa). Nơi đây, Bùi Hàng gặp được Vân Anh và sau thành Tiên, nên thành ngữ nầy ngụ ý chỉ đường về cảnh Tiên.
Truyện kể như sau:
Đời Đường, nước Trung Hoa có anh Bùi Hàng, trên đường đáp thuyền đi Tương Hán, bất ngờ được cùng đi chung chuyến thuyền với nàng Vân Kiều, người đẹp vào hàng quốc sắc. Hàng nhờ người hầu gái của Vân Kiều đưa thư hộ, nên được tiếp chuyện với Vân Kiều và được nàng tặng bài thơ:
“Nhất ẩm huỳnh tương bách cảm sanh,
Huyền sương đảo tận kiến Vân Anh.
Lam kiều tiện thị Thần Tiên quật,
Hà tất khi khu thướng Ngọc Kinh”.
(Uống rượu huỳnh tương trăm cảm sinh,
Huyền sương giã thuốc gặp Vân Anh.
Lam kiều vốn thật nơi Tiên ở,
Hà tất băng mình đến Ngọc Kinh).
Sau, Bùi Hàng y lời dặn trong thơ đi đến Lam kiều.
Hàng dừng chân nơi quán trọ bên đường của một bà lão để giải khát. Cô con gái của bà lão bưng nước ra. Hàng trông thấy xinh đẹp lạ thường liền hỏi tên họ. Rõ ràng là Vân Anh, em ruột của Vân Kiều. Hàng liền hỏi bà lão xin được cưới nàng làm vợ.
Bà lão bảo Hàng hãy về tìm cho được cối chày bằng ngọc đem lại làm sính lễ, bà sẽ gả Vân Anh cho, khỏi
cần vàng bạc chi hết. Nhờ lòng nhiệt thành, Hàng được Thần Tiên giúp cho cối chày và cưới được nàng Vân Anh.
Lão bà chỉ cho Hàng về cách công phu tu tập và dạy Hàng dùng cối chày đó tán thuốc Tiên trong ba tháng.
Khi làm thuốc xong, cả ba người cùng uống và được thành Tiên.
Do điển tích trên đây mà các Kinh sách hay các nhà văn thường dùng từ ngữ Lam Kiều hay là Cầu Lam để chỉ
con đường đưa đến cảnh Tiên. Cổ thi có câu:
“Trăm năm thề chẳng lòng phàm,
Sông Ngân đưa bạn, cầu Lam rước người”.
Đức Thầy nay cũng than:
Lam Kiều hữu lộ vắng hoe,
Ngục môn không cửa mà hè nhau đi”( Q.3) - luân lý Tứ Ân
Đức Phật Thầy Tây An thuở xưa thường khuyến khích các môn nhơn đệ tử rằng: Muốn làm xong hiếu nghĩa có bốn điều ân ta cần phải hy sinh gắng gổ mới mong làm trọn:
1 Ân Tổ Tiên cha mẹ,
2 Ân Đất Nước,
3 Ân Tam Bảo,
4 Ân Đồng Bào và Nhơn Loại
(với kẻ xuất gia thì ân đàn na thí chủ).
Bốn điều ơn. Theo Kinh xưa, bốn ơn là: Ân Phụ Mẫu, Ân Quân Vương, Ân Tam bảo và Ân Chúng sanh. Nay vì muốn cho sự giáo hóa chúng sanh được thích hợp với trào lưu hiện đại, nên Tứ Ân theo Đức Thầy dạy có thay đổi một ít chữ như sau: Ân Tổ Tiên Cha Mẹ, Ân Đất Nước, Ân Tam Bảo, Ân Đồng Bào và Nhơn Loại. Kinh Phật có câu:“Thượng báo tứ trọng ân, Hạ tế tam đồ khổ”.(Trên đáp bốn ân nặng, dưới giúp ba đường khổ)(HĐ: Theo Lão Cư Sĩ Lý Bỉnh Nam thì nghĩa của “tứ trọng ân” trong câu kinh nầy là: Ân Phật, Ân Thầy Tổ, Ân Cha, Ân Mẹ). Đức Thầy nay luôn nhắc nhở:
“Một câu quân lý tứ ân,
Ta đừng phai lợt Phong thần bảng ghi”.
(Để Chơn Đất Bắc)CẦU TẠI GIA: Cầu nguyện và lễ bái tại nhà. Ý chỉ người cư sĩ (tại gia). Bởi quan niệm rằng: người không có
hiếu thảo thì chẳng làm được việc gì, nếu có hiếu chẳng những đáp được Ân tổ tiên cha mẹ mà còn đáp được trọn vẹn cả 4 ân và tạo được vô lượng phước đức và còn tiến lên đường giải thoát. Vì Kinh Phật đã dạy: 4 ân là đại phước điền. Đức Giáo Chủ luôn nhắc nhở: “Tứ ân đã trả chẳng còn tội căn”, và Ngài còn khuyên: “Lục tự Di Đà
giữ tứ ân”. Kinh xưa hằng dạy:
“Thương thay đời không rõ,
Hai vị Phật tại nhà.
Ấy là cha mẹ đó,
Như Di Lặc, Thích Ca.
Biết thành tâm hiếu kỉnh,
Khỏi cầu công đức xa”. - Four Debts of Gratitude
PRAYER AT HOME: Prayer and worship at home. This refers to lay practitioners (those at home). The belief is that: a person without filial piety cannot accomplish anything; if one is filial, they not only repay the kindness of their ancestors and parents but also fully repay all four debts of gratitude, creating immeasurable merit and progressing towards liberation. The Buddhist scriptures teach that the four debts of gratitude are a great field of merit. The Buddha always reminded us: "Once the four debts of gratitude are repaid, there are no more roots of sin," and He also advised: "The six-word Amitabha mantra preserves the four debts of gratitude."
Ancient scriptures always taught:
"Alas, the world does not understand,
The two Buddhas are at home.These are one's parents,
Like Maitreya and Shakyamuni.
Knowing to be sincere and respectful,
There is no need to seek merit far away." - Lan-Thiên
In the opening of the book "Prophecies and Teachings," the Venerable Master recounts that, on his journey to seek enlightenment and save the world, he stopped at "Lan-Thien"—a location on Mount Ta Lon—to cultivate his mind until he achieved enlightenment.
During a leisurely stroll, he lightly walked around the Lan-Thien area. This towering mountain peak filled his soul with a sense of elation, harmonizing with the surrounding landscape. Suddenly, a gentle breeze blew, causing the willow branches to sway and bend, and a chilling mist permeated the plum blossoms and ornamental flowers. He recalled that, in a spring just like this, while still in his physical form, he had resolved to seek enlightenment and save the world; and after a competition at the assembly of immortals, he was chosen as the Senior Immortal.
Looking into the distance, he saw layers of clouds covering everything like a veil, and he nodded in awe: This was truly a serene scene, befitting the reputation of "Idyllic scene."
After attaining the state of Immortal Master, He returned from the Immortal realm, resided in Lan-Thien for a time, then traveled to various places to find like-minded individuals… Now, out of compassion for the people, He has returned to the mortal world to establish the Great Way.
He recalled his time in the celestial realm, enjoying peaceful tranquility, his heart free from worldly concerns. Now, seeing the common people still engrossed in sensual pleasures, creating worldly karma and failing to fulfill their duties as virtuous individuals, he further stated that only when his mission is accomplished will all people truly understand the compassion of the Buddhas, Saints, and Immortals.
- Lan thiên
Mở đề cho quyển “Sấm Giảng” Đức Giáo Chủ kể lại, trên đường tầm Đạo cứu đời, Ngài đã dừng chân tại “Lan Thiên”- một vị trí trên núi Tà Lơn – để trau giồi tâm trí cho đến khi thành quả.
Nhân một buổi nhàn du, Ngài nhẹ gót dạo quanh vùng Lan Thiên. Đây là một đỉnh núi cao vút, khiến tâm hồn Ngài lâng lâng, giao hòa cùng kiểng vật. Bỗng từ đâu cơn gió nhẹ đưa về, làm những cành liễu thướt tha, uốn lượn, màn sương thấm lạnh cả tòng mai, hoa kiểng. Hồi tưởng, cũng một mùa Xuân như hiện giờ, khi còn mang nhục thể, Ngài quyết tâm tầm Đạo cứu đời; và sau cuộc thi tài tại hội quần Tiên, Ngài được tuyển làm bậc Tiên Trưởng.
Kế nhìn ra xa, thấy bốn bề mây phủ lớp lớp như kết tụi màn che, rồi Ngài gật gù cảm nhận: Đây thật là một cảnh thanh thoát, đúng với danh tiếng “Non Bồng”.-Sau khi được chứng quả Tiên Trưởng, Ngài từ cõi Tiên trở về, an trú tại Lan Thiên một thời gian, rồi Ngài ngao du các nơi để tìm kẻ đồng tâm hạp chí…Nay vì lòng thương xót chúng dân, nên Ngài trở lại cảnh trần khai nguồn Đại Đạo.
Ngài hồi tưởng lúc còn ở non tiên, hưởng cảnh thanh nhàn tịch mịch, lòng chẳng còn vướng bận trần ai. Nay nhìn thấy lê dân mãi đắm say dục lạc, gây nghiệp trần mê, chẳng lo gìn tròn bổn phận của người hướng thiện. Ngài còn cho biết: đến lúc Sứ Mạng của Ngài hoàn thành thì khắp bá tánh, mới rõ được lòng Từ bi của chư Phật Thánh Tiên. - Chin
Here is only Ta Lon Mountain, where Mr. Cu Da (Ngoc Thanh) cultivated the Way to enlightenment. According to the teachings, 'Tan' refers to the country of Khmer, and since Ta Lon Mountain is located within Khmer territory, it is called Tan Mountain.
"Though relying on Tan Mountain,
In the future, the world's affairs will turn southward."The Master mourned deeply for humanity, too obsessed with material civilization, committing evil and wicked deeds, and thus having to reap the fruits of suffering later. He recalled the time following the Master to practice the Way at the peak of Ta Lon Mountain. Although this mountain is presently within Khmer territory, in the future, circumstances will turn it into a part of Vietnam.
"Keep away from the immoral inn,
Later, you will see Tan Mountain in turmoil."The Master also further revealed: Due to excessive greed for treasures, in the future, many nations will wage war in the northern sea (Gulf of Tonkin) and Tan Mountain (That Son), creating a scene of mountains of bones and rivers of blood, extremely tragic:
"Thunder roars, revealing the golden tablets,
All civilized nations come to the battlefield.
Words of the poem are near words of sorrow,
Driven by greed for treasures, blood flows mysteriously."(Thien Ly Song).
The Master also further revealed: Due to excessive greed for treasures, in the future, many nations will wage war in the northern sea (Gulf of Tonkin) and Tan Mountain (That Son), creating a scene of mountains of bones and rivers of blood, extremely tragic: 'Thunder roars, revealing the golden tablets, All civilized nations come to the battlefield. Words of the poem are near words of sorrow, Driven by greed for treasures, blood flows mysteriously.' (Thien Ly Song). Religions are fundamentally one, differing only in historical timing.
The Head of the Hoa Hao Buddhist Church also once stated:
“Bửu Châu works diligently in the mountains of Tần,
Mountains and rivers guard and awaken... - non Tần
Ở đây chỉ núi Tà Lơn, nơi ông Cử Đa (Ngọc Thanh) tu đắc Đạo. Vì theo cơ giảng thì Tần ám chỉ cho nước Miên, mà núi Tà Lơn nằm trên địa phận nước Miên, nên gọi là non Tần.
"Tuy là nương dựa non Tần,
Ngày sau thế cuộc xoay vần về Nam."Đức Thầy thảm thương cho người đời quá đam mê văn minh vật chất, gây nghiệp tà gian hung ác, mà phải gặt lấy quả đau khổ sau nầy. Ngài hồi tưởng lúc theo Thầy tu học Đạo pháp tại đỉnh núi Tà Lơn. Núi nầy tuy hiện giờ nằm trên địa phận nước Miên, nhưng sau nầy thời thế sẽ xoay chuyển trở thành của nước Việt Nam.
"Điếm-đàng đĩ-thõa chớ gần,
Để sau xem thấy non Tần xôn-xao."Đức Thầy còn cho biết thêm: Vì quá tham của báu, nên sau nầy vạn quốc sẽ mở cuộc chiến tranh tại biển Bắc (Vịnh Bắc Việt) non Tần (Thất Sơn), diễn nên cảnh núi xương sông máu, vô cùng thảm khốc:
“Sấm vang thì lộ bảng vàng,
Chư nhu thế giới khắp tràng đến thi.
Chữ thi gần chữ sầu bi,
Bị ham của báu ly kỳ máu rơi”(Thiên Lý Ca).
“Lời châu ngọc khuyên ai để dạ,
Nay gặp người quái lạ tỏ phân.
Hãy mau khuya sớm chuyên cần,Đặng xem chư-quốc non Tần giành chia."
Chỉ cho vùng Bảy Núi; theo Sấm Giảng của Đức Phật Thầy Tây An (BSKH) và Giáo lý PGHH thì vùng Bảy Núi (Thất Sơn) được gọi là Non Tần. Đức Giáo Chủ đã xác định:
“Ở đây một buổi ghe lui,
Về trên Bảy Núi ngùi ngùi thương dân.
Thầy trò chẳng nại tấm thân,
Rảo khắp Non Tần bận nữa thử coi”.(SG, Q.1)Non Tần có nhiều gắn kết với Bữu Sơn Kỳ Hương và ,qua những lời thơ của Đức Thầy, Phật Giáo Hòa hảo cùng sinh ra trong cùng một địa dư. Cả hai nền tôn giáo cùng chia sẽ cùng nguyên tắc giáo lý như hai nền tôn giáo chỉ là một, chỉ khác nhau về thời điểm lịch sử.
Đức Giáo Chủ PGHH cũng từng cho biết:
“BỬU châu công luyện chốn non Tần,
SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
KỲ quái chờ nơi thiên nhứt định,
HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân”. - Lục-Tỉnh
Sáu Tỉnh của Nam Việt Nam (tiếng Việt: Nam Kỳ Lục tỉnh, 南圻六省 hoặc chỉ Lục tỉnh, 六省) là tên gọi lịch sử của vùng Nam Việt Nam, được gọi bằng tiếng Pháp là Basse-Cochinchine (Cochinchina thấp, hay Hạ Đàng Trong). Vùng này được xác định và thiết lập về mặt chính trị sau khi triều Nguyễn được khai lập vào năm 1802, và được gọi bằng tên này từ năm 1832, khi Hoàng đế Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính. Sáu tỉnh mà Hoàng đế Minh Mạng chia Nam Việt Nam vào năm 1832 gồm có: Phan Yên, sau đổi tên thành Gia Định (kinh đô tỉnh: Sài Gòn) Biên Hòa (kinh đô tỉnh: Biên Hòa) Định Tường (kinh đô tỉnh: Mỹ Tho) Vĩnh Long (kinh đô tỉnh: Vĩnh Long) An Giang (kinh đô tỉnh: Châu Đốc) Hà Tiên (kinh đô tỉnh: Hà Tiên) Những tỉnh này thường được chia thành hai nhóm: ba tỉnh phía đông gồm Gia Định, Định Tường và Biên Hòa; và ba tỉnh phía tây gồm Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
Cũng như từ Lục tỉnh, tức sáu tỉnh Nam phần Việt Nam. Vào thời nhà Nguyễn, vua Gia Long chia làm 6 trấn: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Long Hồ, An Giang, Hà Tiên. Đến năm Tân Mão (1831), vua Minh Mạng đổi sáu trấn ra sáu tỉnh, tức là sáu châu. Đến thời Pháp thuộc, sáu châu được chia làm 20 tỉnh, rồi 21 tỉnh, tức thêm tỉnh Vũng Tàu, trước đó thuộc Bà Rịa. Danh từ “dạo lục châu” được Đức Giáo Chủ đề cập nhiều lần trong Sấm Giảng Thi Văn của Ngài:
“Khắp sáu châu nức tiếng người đồn”.(Sa Đéc)
Hay là:
“Lục châu chưa giáp mà lòng ủ ê”.( Q.1)Chú Giải Thi Văn Giáo Lý (1975)
- In the Middle
Because Vietnam will be the rotation center of the globe:
"The central world rotates toward the South,
Holding a holy assembly to select loyal and faithful people"
(Diệu Pháp Quang Minh), so in the future and here there will be:
"Buddhas, Immortals, and Saints
Pacifying the country and establishing the nation"?
(Not Sleeping) and:
"Dragon Flower Immortals and Buddhas arrive in Ta Bà,
Deceitful ones eliminated for the sake of the good."(Awakening of a Female Devotee in Bạc Liêu)
"The day the order arrives in the mortal world,
The central realm points to Vietnam."
(Replying to the Kitchen God)
The invocation of the Kitchen God to the Jade Emperor at the end of the year.
Then the Buddha Master appeared, Reporting clearly to the Jade Emperor.
The Bright King attends the Buddha Hall, Advising on practicing in the central world below."
Also referred to as the South. It means the southern direction, here referring to Vietnam. It also means the South Jambudvipa, that is Nam Cetiya, one of the four major continents in the Ta Bà realm. The Master once said:
"The central world rotates toward the South,
Holding a holy assembly to select loyal and faithful people."
(Diệu Pháp Quang Minh)
In the article 'Visiting Nhơn Nghĩa Village,' He said:
“The central realm rotates toward the South,
Opening the sacred assembly to choose the loyal and faithful.”
(Diệu Pháp Quang Minh)In the poem To Nhơn Nghĩa Village, He said:
“Oh, tragic suffering with waves rising on all sides,
Looking at the sky's back, the fire burns incessantly.Desolate are the agricultural products of the fields,
Marvelous powers transform under the central region.” - Cõi Trung-Ương
Bởi cơ luân chuyển Việt Nam sẽ nhằm trung tâm điểm của quả địa cầu:“Cõi trung ương luân chuyển phương Nam, Mở hội thánh chọn người trung hiếu”(Diệu Pháp Quang Minh) nên sau nầy và nơi đây sẽ có: “Phật, Tiên, Thánh an bang cùng định quốc”? (Không Buồn Ngủ) và:
“Long Hoa Tiên Phật đáo Ta bà,
Lừa lọc con lành diệt quỉ ma”.
(Thức Tỉnh Một Nữ Tín Đồ Ở Bạc Liêu)“Ngày vâng chỉ đáo lai trần thế,
Cõi Trung ương nhằm nước Việt Nam”.(Trao Lời Cùng Ông Táo)
Bài Sớ của Ông Táo thưa cùng Ngọc Hoàng Thượng Đế vào cuối năm.
Kế đó Phật Tổ giá lâm,
Tâu cùng Ngọc Đế thấp cao tỏ tường.Minh Vương có tới Phật Đường,
Giáo khuyên dưới thế trung ương tu trì”.Cũng gọi là phương Nam. Có nghĩa là hướng Nam, đây ám chỉ nước Việt Nam.
Cũng có nghĩa cõi Nam Diêm Phù Đề, tức Nam Thiệm Bộ Châu, một trong 4 châu lớn ở cõi Ta bà. Đức
Thầy từng cho biết:
“Cõi trung ương luân chuyển phương Nam,
Mở hội Thánh chọn người trung hiếu”.
(Diệu Pháp Quang Minh)Trong bài Đến làng Nhơn Nghĩa, Ngài nói:
“Ôi khổ thảm bốn bề sóng dậy,
Dòm lưng Trời lửa cháy liên miênTiêu điều sản vật điền viên,
Thần thông biến hóa dưới miền trung ương”“Trung Ương tam cõi đều hòa mặt,
Ta mới thảnh thơi trở gót hài”.
Ngài cũng không ngần ngại chỉ ngay vị trí:
“Cõi Trung Ương nhằm đất nước Việt Nam,
Chọn một chàng tuổi trẻ tục phàm,
Mượn tay gả tờ hoa thần hạ bút”.
(Trao Lời Cùng Ông Táo)Người ôi ! Chơn lý khổ lâu đời,
Thâm cảnh diệu huyền hẹn một nơi.
Hoà mặt trung ương tam điệp khách,
Đợi chờ thiên luật mới về ngơi.
Hòa mặt là hợp mặt. Trung ương là trung tâm điểm cả thế giới. Tam điệp khách là ba vị Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Nhơn Hoàng cùng nhau có một nhiệm vụ sắp đặt cuộc thái bình an lạc cho dân chúng được hưởng cảnh Tam Hoàng Thánh đức như thời xưa. Đức Thầy từng cho biết:
“Hiền lành chừng đó sum vầy,
Quân thần cộng lạc mấy ngày vui chơi.
Đến đó ta mới mừng cười,
Nhìn xem Ngọc Đế giữa trời định phân.Như vậy Trung Ương là nơi quân thần cộng lạc, nơi tam...
- Thần-Tú
Đối nghịch lại với cách tu hành mà Đức Thầy chủ trương, tức là theo phương pháp tu vô vi của Đức Phật Thích Ca ngày trước, mà sau này Lục-Tổ Huệ Năng hoằng dương, thì có một nhà tu nổi tiếng thời Đường, là Thần Tú, chủ trương dùng âm thanh sắc tướng chuông mỏ để cổ súy vie5c thực hành, thế nên Đức Thầy kêu gọi nhân dân tỉnh tâm tìm lại cái căn gốc của Đạo.
Theo Thần-Tú tạo nhiều chuông mõ,
Từ xưa nay có mấy ai thành ?
Xưa Thần-Tú bày điều tà-mị,
Mà dắt-dìu bá-tánh đời Đường.
Thấy chúng-sanh lầm lạc đáng thương,Cõi Âm-Phủ đâu ăn của hối.
Bởi thấy thời nay có số tăng ni trong các chùa tu theo sắc tướng thinh âm làm sai lạc chân truyền
của Đạo Phật từ trước, nên Đức Thầy khuyên họ mau trở về với Chánh pháp vô vi:“Huyền pháp thâm
trầm thơm bất tuyệt, Vô vi chánh Đạo hỡi người ôi !”(Cho Ông Tham Tá Ngà).
Có thế mới đúng chân truyền của Đức Phật Thích Ca và mới kết quả trên đường tu Phật. Vì rằng: tất
cả hình tướng màu sắc đều là hư vọng, ảo ảnh. Người tu theo sắc tướng (hữu vi), khác nào kẻ bắt
bóng trong gương, mò trăng đáy nước. Kinh Thiền Môn đã nói:“Tu mà cầu hình tướng bên ngoài, tuy
trải qua nhiều kiếp, rốt cuộc chẳng đặng thành công. Nếu giác ngộ trở về xem bản tánh mình, thì
trong một niệm liền chứng quả Bồ đề. Cho nên hành giả phải tìm cái chơn không (chơn tâm) mới là
thật có”. Đức Giáo Chủ hằng dạy:
“Chuyện cao siêu Phật pháp còn dài,
Khó gặp chữ không không mà có”THẦN TÚ: (606-707) Trong lịch sử Phật giáo không có ghi chép tiểu sử rõ ràng, chỉ biết đại lược: Thần
Tú là đệ tử của Tổ Hoàng Nhẫn, làm chức Giáo thọ, trông coi đồ chúng tu học; mọi người đều kính nể
sự học tập nghe nhiều của ông.
Khi ông làm Kệ dâng Ngũ Tổ, lòng luôn nao nức tự phụ trong hàng tăng chúng chẳng ai bằng mình.
Song sau khi chẳng được truyền y bát, ông đâm ra hiềm khích Lục Tổ Huệ Năng, bèn lập thành một
tông phái Đạo Phật truyền bá phương Bắc nước Tàu, trụ trì tại chùa Ngọc Tuyền, ở Kinh Châu. Học
trò của Thần Tú có khoảng 3.000. Thầy trò đều chủ trương lối tu... - Shen Xiu
Contrary to the method of cultivation that the Master advocated, namely following the non-action (wu wei) practice of the Buddha Shakyamuni in the past, which was later propagated by the Sixth Patriarch Huineng, there was a famous monk during the Tang dynasty, Shenxiu, who advocated using sounds and forms of bells and gongs to encourage practice. Therefore, the Master called on the people to awaken and return to the root of the Way.
According to Shenxiu's way of making many bells and gongs,
How many have ever truly succeeded since ancient times?In the past, Shenxiu devised heretical and deluding methods,
And guided the common people of the Tang dynasty.
Seeing sentient beings lost and pitiable,
The realm of the Underworld does not take bribes.Because there are now monks and nuns in temples who practice following forms and sounds, thus distorting the true transmission of Buddhism from the past, the Master advised them to quickly return to the True Dharma of non-action: "Profound and subtle is the mysterious Dharma, its fragrance never ending; Ah, the True Way of non-action, O people!" (For Mr. Tham Ta Nga).
Only in this way can one truly follow the authentic lineage of Buddha Shakyamuni and achieve results on the path of Buddhist practice. Because all forms and colors are illusions, mere appearances. Practicing Buddhism by clinging to forms (the conditioned) is like trying to catch a shadow in a mirror or grasp the moon reflected in water. The Chan (Zen) scriptures have stated: “If one practices seeking external forms, even after many lifetimes, one will ultimately not succeed. If one awakens and returns to see one’s own nature, then in a single thought, one attains the Bodhi fruit. Therefore, the practitioner must seek the true emptiness (true mind) to have real existence.” The Dharma Master always taught:
“Exalted matters of the Buddha’s teaching are vast,
Hard to encounter, emptiness yet existent.”THANH TÚ: (606-707) In...
- Sixth Patriarch
The Sixth Patriarch's real name was Huệ Năng, surname Lư, with the monastic title Phụ Trung Cư sĩ. He was the son of Lư Khánh Thao and Mrs. Lý Thị. In Mandarin, his name sounds like Hui-Neng.
His original hometown was Phạm Dương, later moving to Tân Châu, in the region of Lãnh Nam.
He was born on the night of the 8th day of the 2nd month in the year Mậu Tuất (638), during the Tang dynasty (China). From the moment he was born, he did not nurse because every night a celestial being gave him Ambrosial water to drink. By the age of three, he was orphaned of his father; his mother remained chaste and raised him in poverty, feeding him only plain vegetables. When he grew up, he specialized in chopping wood to exchange for rice to support his mother. One day, while carrying firewood to the market to exchange for rice, he heard someone reciting the Diamond Sutra up to the line: “One should produce a mind that does not dwell anywhere” (Không trụ vào chỗ nào để sanh tâm mình), and he attained enlightenment and decided to practice. Luckily, someone gave him 10 taels of silver, he provided for his elderly mother, and then went to Đông Thiền temple in Huỳnh Mai district to study with the Fifth Patriarch, Hoàng Nhẫn.
For over eight months, he happily performed temple duties such as chopping wood, pounding rice, carrying water, etc., without complaint, focusing only on the meditation of self-realization: “Directly point to the mind of man, see the nature, and become a Buddha.” One day, the Fifth Master Huang-Ren.For eight months, he happily carried out tasks such as chopping firewood, pounding rice, fetching water, etc., without any complaint, solely devoted to practicing the method of seeing one’s true nature: 'Directly point to the human mind, see one’s nature, and become Buddha.' One day the Fifth Patriarch transmitted to all disciples: each person should compose a verse about their own nature; whoever attains enlightenment will succeed as the Sixth...
- Lục-Tổ
Lục Tổ tên thật là Huệ Năng, họ Lư, đạo hiệu là Phụ Trung Cư sĩ, con của Lư Khánh Thao và bà Lý Thị.
Nguyên quán Ngài tại đất Phạm Dương, sau dời về Tân châu, xứ Lãnh Nam.
Ngài sanh vào đêm mùng 8 tháng 2 năm Mậu Tuất (638), thuộc nhà Đường (Trung Hoa). Từ khi lọt
lòng mẹ, Ngài không bú sữa, vì hằng đêm có thần nhân cho uống nước Cam lồ. Mới ba tuổi Ngài phải
mồ côi cha; mẹ của Ngài thủ tiết nuôi con trong cảnh nghèo khổ, cháu rau đạm bạc. Lớn lên Ngài
chuyên đốn củi đổi gạo về nuôi mẹ. Một hôm, Ngài gánh củi xuống chợ đặng đổi gạo nghe có người
tụng Kinh Kim Cang đến câu:“Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”(Không trụ vào chỗ nào để sanh tâm
mình) thì Ngài tỏ ngộ và ý quyết đi tu. May mắn có người giúp cho 10 lượng bạc, Ngài chu cấp cho
mẹ già, rồi đến chùa Đông Thiền, huyện Huỳnh Mai cầu học với Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn.
Trên tám tháng Ngài vui vẻ làm công quả bửa củi, giã gạo, gánh nước.v.v…mà không hề than van, chỉ
chuyên trì môn kiến tánh:“Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Một hôm Ngũ Tổ truyền khắp
môn đồ: mỗi người hãy làm một bài kệ tự tánh, nếu ai được tỏ ngộ sẽ được kế truyền ngôi Tổ thứ
sáu. Trong đồ chúng cả ngàn người, nhưng không ai dám làm, duy có Thần Tú học rộng biết nhiều,
làm một bài kệ lén dán trên tường:
“Thân thị Bồ đề thọ,
Tâm như minh cảnh đài.
Thời thời cần phất thức,
Vật sử nhá trần ai”.
(Thân ấy Bồ đề thọ, Tâm như minh cảnh đài.
Giờ giờ cần phủi sạch, Chớ để vướng trần ai).
Bài kệ ấy được đồ chúng truyền tụng, thấu đến tai Huệ Năng. Ngài liền đến xem và muợn người chép
giùm bài kệ của Ngài lên vách:
“Bồ đề bổn vô thọ,
Minh cảnh diệc phi đài.
Bổn lai vô nhứt vật,
Hà xứ nhá trần ai”.
(Bồ đề vốn không thọ, Minh cảnh cũng không đài.
Xưa nay không có vật, Nào chỗ vướng trần ai”.
Sau đó, Ngũ Tổ đến xem biết Huệ Năng đã ngộ chơn tánh, nên dùng mật ngữ gọi vào phòng, truyền
tâm ấn và phú chúc y bát cho Ngài nối ngôi Tổ thứ sáu. Lúc ấy nhằm đời Đường Cao Tông, hiệu Long
Sóc năm Tân Dậu. Ngài lãnh y bát, về phương Nam ẩn dật 16 năm mới ra truyền Đạo. Đến ngày... - huyền-cơ
Huyền là diệu huyền, nhiệm sâu, bí hiểm. Cơ là bộ máy vận hành theo một số qui luật nhất định, không phải ai
dễ dàng điểu khiển nó. Đây nói về sự vận hành của cả vũ trụ, nên muốn hiểu được sự vận hành ấy đòi hỏi một cố gắng lâu dài, khõng ngừng nghỉ phi thường, một bộ máy trời khổng lồ đối diện với nó con người cảm thấy quá nhỏ bé, quá phụ thuộc. Nhưng lợi ích mà sự hiểu biết về nó sẽ đem lại một ích lợi vô giá, vô song, và sẽ không dễ dàng đánh mất.
Ngày nay gặp Bạn Tri-Âm,
Rán mà trì chí đặng tầm huyền-cơ.(SG Q3, 819-829)
Đức Thầy thúc giục mọi người đi tìm huyền cơ vì một khi tìm được, nó sẽ giúp người ấy phân biệt đ2u là chánh, đâu là tà, từ đó việc tu hành mới tinh tấn, không bị tà kiến xen vào.
Chuyện huyền-cơ bí-hiểm cao sâu,
Hãy nghiệm xét hai đường tà chánh.
Đây cũng là việc làm rất gấp vì thời gian không chờ người ta nữa, vì cờ thế giới ngày nay gần thúc, chuyện thiên cơ mỗi phút mỗi thay,
Hiền nhơn bổn phận tu mi.
Hãy mau thức tỉnh kiếm thì huyền-cơ.Làm người tu mi nam tử cần phải sớm lên đường làm cho tròn bổn phận, tứ ân phải trả cho xong, chừng lập hội mới mong trờ lại.
Trong bá tánh muốn nơi cao quí,
Phải truy tầm huyền-bí nơi cơ.
Từ sấm kinh cho đến thi thơ,Trong chốn ấy nhiều nơi trọng yếu.
Ngoài ra, huyền cơ còn được chứa đựng trong kinh sám của Đức Thầy, nên người biết đạo không nên bỏ qua cơ hội truy cứu trong các bài giảng của ngài để mở mang tầm nhìn về những gì trọng yếu mà ngài đã cố công chỉ bảo. Nhưng tất cả diệp đó không dẫn dắt người tu ra ngoài khuông khổ của Giáo Lý chân truyền của Phật Thích ca.
Khùng toán biết âm-dương kết-liễu,
Khùng huyền-cơ Khùng Đạo Thích-Ca.
(Diệu Pháp Quang Minh)
Những chữ đồng nghĩa: cơ huyền như trong bài Lộ Chút Cơ Huyền.
- Bright King
The lecture above by the Master indicates that in the past, Marquis Xi Bai (King Wen) was revered by people as a sage, yet he was still imprisoned by King Zhou at Yuli for seven years. How much more so, then, can the effort to save the world in the present time avoid the suppression of lawless powers and the slander of the world.
Looking back at sentient beings who are rolling in the sea of worldly suffering, from one disaster to another without end, it is no different than the time of Jie and Zhou, when the people had to grieve and lament under the cruel rule of those two kings. Because Jie and Zhou were excessively weak, some were burned to death, others lost their lives; the foundations and achievements of ancestors fell into the hands of others, and they left a disgraceful reputation for all generations.
Thinking with compassion for the Bright King, a figure of intelligence and virtue, following the example of Yao and Shun in cultivating oneself and establishing good conduct, in order to: “Establish a universal harmony across the world” so that humanity may benefit.
Extracted from the Oracle Commentary (1975)
- Minh-Vương
Đoạn giảng trên Đức Giáo Chủ cho biết Tây Bá Hầu (Văn Vương) xưa kia, được người đời tôn là Hiền
Thánh, thế mà còn bị Trụ Vương bắt cầm tù tại Dũ Lý bảy năm. Huống chi công cuộc cứu đời của
Ngài thời nay làm sao tránh khỏi sự kềm kẹp của kẻ cường quyền vô đạo và tiếng đời gièm pha biếm
nhẻ.Nhìn lại chúng sanh đang lăn lóc trong bể trần thống khổ, hết nạn nầy tới ách kia không dứt, chẳng
khác nào thời Kiệt, Trụ xưa kia dân chúng phải buồn than khóc hận, dưới chế độ cay nghiệt của hai
nhà vua ấy. Bởi Kiệt, Trụ quá nhu nhược nên kẻ bị chết thiêu, người thì mất mạng; cơ đồ sự nghiệp
ông cha về tay người khác và còn lưu tiếng cho muôn đời phỉ nhổ.
Nghĩ thương cho Đức Thánh Vương, là bậc thông minh hiền đức, noi gương Nghiêu, Thuấn tu thân
lập hạnh, hầu:“Dựng cuộc hòa minh khắp đại đồng” cho nhân loại được hưởng nhờ.Trích Chú Giải Sám Giảng (1975)
- Gathering
The Hoi in Sam Giang means the Cloud-Dragon Assembly, Long-Hoa Assembly, and Feng-Shen Assembly, a unique event frequently mentioned in the recitation sutras of Hoa Hao Buddhism, presented through various ceremonial poems, as an indispensable part of the propagation process of Master Huynh Giao Chu.
"At present, right and wrong are still mixed, but on the day when the Buddha-Immortal establishes the Long-Hoa Assembly, there will be a selection, and then the true and false, right and wrong will be very clear:"
Long-Hoa Immortal Buddha arrives in Ta-Ba,
Deceptive ones among the good will be destroyed by demons.”(Awakening a Female Devotee).
The Master also indicated: He descended to save beings in the mortal world because He obeyed the mission of the Buddha Founder at Ling-Khuu Mountain.
"When the Assembly is established, there is no shame or hesitation,
Even with Buddhas and Immortals, it is not far.""Now, right and wrong are not yet distinguished.
I follow the decree of the Jade Throne,
Answer the mandate within Ling-Khuu Mountain.When the Assembly is established, we will know who remains and who is lost."
"The communal Assembly will thoroughly observe,
Sending generals to admonish the human world.
Many sufferings will witness wonders hard to describe,
From now on, hardships will continue till the end."(People’s Verse, Vol. 2).
"The good fly away while the evil still remains,"
"Good and evil still exist,
Until the time of establishing the Assembly, when souls separate."
"Once the Long-Hoa Assembly is established,
One can see how much virtue there actually is."
"The Long-Hoa Assembly selects those who cultivate the Way,
So that virtuous people can assist the True Lord."
Based on the above teachings, we can understand that the Assembly is a very significant event where Buddhas, Immortals, and Saints all participate to judge who is right and who is wrong, rewarding and punishing accordingly. Those with...
- Yao-Shun
SHUN: is Emperor Shun (2256-2195 BC). His clan name was Yao, and his real name was Chong Hua. He was the eighth-generation grandson of Emperor Huang. He was a filial son, ranking first in the "Twenty-four Filial Exemplars" of China.
His biological mother died early. His father, Gusou, married another woman, who gave birth to Xiang. (People saw that he listened to his stepmother and intended to kill Shun, unable to discern right from wrong, so they called him Gusou, meaning 'blind person'). Shun was falsely accused by his stepmother and his rebellious younger brother Xiang, so Gusou disliked Shun and intended to kill him. Yet Shun always remained filial to his father and harmonious with his brother.
Gu sou sent Shun to the Lishi Mountain to plow fields. This place was known for having many wild animals, so his father wanted the beasts to eat him out of sight. But when he arrived, the heavens sent elephants to plow and birds to gather grass. Seeing that they could not harm him, his father sent him to fish at Leizhe Pond, a place often troubled by large waves and strong winds, but when he arrived, the waves were calm and the wind gentle.
Emperor Yao, hearing of his great filial piety, summoned him to marry his daughter to him and passed on the throne. Emperor Shun established his capital at Do Ban (Ngu Huong, Ha Dong, Shanxi province) and changed the country's name to You Yu.
Upon ascending the throne, Emperor Shun relied on virtuous and talented people to help govern the country. He sent Gon’s son, Wu, to control the floods in place of his father; appointed Mr. Tiet as Minister of Works, Mr. Hau Tac to teach the people to cultivate five kinds of rice; Mr. Cao Dam served as Minister of Justice… Emperor Shun also instituted inspections to review officials and the condition of the people. He established the Chang Tuong school. China had schools since the time of Emperor Shun.
During his 61-year reign, Emperor Shun merely played the zither...
- Zhou and Jie
Looking back at the sentient beings struggling in the sea of worldly suffering, from one disaster to another without end, it is no different from the time of Jie and Zhou, when the people had to lament and cry in sorrow, under the harsh rule of those two kings. Because Jie and Zhou were too weak and inept, some people were burned to death, others lost their lives; the foundation and achievements built by the ancestors fell into the hands of others, leaving a reputation for contempt for generations. One sympathizes with the Holy King, a wise and virtuous ruler, who followed the example of Yao and Shun by cultivating himself and establishing virtue, in order to: 'Build universal harmony across the entire world' so that humanity may benefit.
NOTE: TÂY BÁ refers to the Marquis of the West. His real name was Ji Xiang, serving King Zhou (from the Shang dynasty). At that time, China was divided into four commanderies held by vassals, each governing 200 smaller states. He was a person of complete talent and virtue, so King Zhou appointed him to govern the western region (Marquis of the West). At that time, King Zhou favored Daji, and following her advice, did things against morality: killed Queen Jiang, and fearing revenge from his father-in-law Jiang Hsi, he followed the counsel of Bi Zhong to summon the four vassal commanderies to the capital to be killed, in order to prevent future calamities.
Extract from the Notes on the Oracles (1975)
- Shang
The Shang dynasty (Chinese: 商朝; pinyin: Shāngcháo), also known as the Yin dynasty (殷代; Yīn dài), was a Chinese royal dynasty that ruled in the Yellow River valley during the 2nd millennium BC, traditionally succseeding the Xia dynasty and followed by the Western Zhou dynasty. The classic account of the Shang comes from texts such as the Book of Documents, Bamboo Annals and Shiji. Modern scholarship dates the dynasty between the 16th and 11th centuries BC, with more agreement surrounding the end date than beginning date.
The verse refers to the Shang dynasty which had been at its nadir gave rise to a new era where the bright King emerged as a saviour of the country. The ancient Chinese classics used the image of a phoenix as a propitious herald of peace and prosperity.
Since ancient times, whenever there was a period of turmoil, the phoenix would not appear. During times of peace, if a Holy Lord was born, the phoenix would crow to welcome the Holy Lord. For example, during the reigns of Emperor Yao and Emperor Shun, people could hear the crowing of the phoenix resounding across the fields. But by the time of King Wu, the phoenix disappeared. By the end of the Shang dynasty, transitioning to the era of King Wu of Zhou, the phoenix once again crowed on Mount Qizhou to announce that the Holy Lord was about to appear.
- Linh Khứu Sơn
LINH KHỨU: Gradhakuta (Phạn ngữ, Scr.), phiên âm là Kỳ Xà Quật, dịch nghĩa có nhiều danh xưng:
Linh Khứu Sơn, Linh Thứu Sơn, cũng gọi là Kê Túc Sơn. Một ngọn núi ở gần thành Vương Xá, nước Ma Kiệt Đà, thuộc Trung bộ xứ Ấn Độ. Đứng xa nhìn nó như con chim khứu (Kên kên) nên gọi là Khứu Lĩnh. Lúc Đức Phật Thích Ca còn trụ thế Ngài thường cu hội đại chúng thuyết pháp. Có lần Ngài thuyết Kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa tại đây. Kinh Sách xưa nay thường dùng Linh Thứu Sơn để chỉ cho xứ Phật hay chỗ Phật ngự. Đức Thầy nay cũng từng bảo:
“Quyết đưa chúng về nơi Non Thứu,
Tạo lư bồng ngỏ hội quần Tiên”.
(Diệu Pháp Quang Minh)Linh Khứu còn gọi là Linh Thứu (Gradhakuta),. Đây là quả núi có hình giống con chim thứu ( chim ô, chim kên kên), nơi Phật đã từng ngự và thuyết pháp. Phiên âm từ tiếng Phạn là Kỳ-Xà-Quật sơn, cũng được gọi là Kê- Túc sơn (quả núi có hình giống con gà trống) hoặc Linh sơn. Kinh “Diệu Pháp Liên Hoa” được Phật thuyết tại đây. Linh Thứu Sơn còn để chỉ xứ Phật hay chỗ Phật ngự. Đức Thầy nay cũng từng bảo:
“Ta vì vưng sắc lịnh ngọc tòa,
Đền Linh Khứu sơn trung chịu mạng”.
(GMTK, Q.4)
Đức Thầy nhắc nhở tín đồ rằng ngài nhận sứ mạng dạy đời cũng từ nơi linh thiêng này:
“Ta vì vưng sắc lịnh ngọc tòa,
Đền Linh Thứu Sơn trung chịu mạng”.(Diệu Pháp Quang Minh)
- Hội
Hội trong Sám Giảng có nghĩa là Hội Mây Rồng, Hội Long Hoa, Hội Phong Thần, một sự kiện có một không hai được nói đến rất nhiều trong các bài kinh sám của Phật Giáo Hòa Hảo, trình bày qua nhiều bài sám thi, như một phần không thẻ thiếu trong tiến trình hoằng hóa của Đức Huỳnh Giáo Chủ.
"Hiện giờ chánh tà còn đang lẫn lộn, nhưng đến ngày Phật Tiên lập hội Long Hoa, sẽ có cuộc chọn lọc, khi ấy sự chơn giả, tà chánh rất phân minh:“
Long Hoa Tiên Phật đáo Ta bà,
Lừa lọc con lành diệt quỉ ma.”
(Thức Tỉnh Một Nữ Tín Đồ).
Đức Thầy còn cho biết: Ngài lâm phàm độ chúng, là vì vâng sứ mạng của Đức Phật Tổ tại Linh Khứu Sơn.
"Chừng lập Hội khỏi thùa khỏi thẹn,
Với Phật-Tiên cũng chẳng xa chi.""Giờ chưa phân chưa biết chánh tà.
Ta vì vưng sắc lịnh Ngọc-Tòa,
Đền Linh-Khứu sơn trung chịu mạng.Chừng lập Hội biết ai còn mất,"
"Hội công đồng xem xét hẳn hòi,
Sai chư tướng xuống răn trần thế.
Đau nhiều chứng dị kỳ khó kể,
Sắp từ nay lao khổ đến cùng”(Kệ Dân, Q.2).
"Lành bay còn ác lại tồn,
Đến chừng lập Hội xác hồn lìa xa."
"Lập rồi cái Hội Long-Hoa,
Đặng coi hiền-đức được là bao nhiêu."
"Hội Long-Hoa chọn kẻ tu-mi,
Người hiền đức đặng phò chơn Chúa."
Căn cứ trên các câu giảng trên, ta có thể hiểu Hội là mọt biến cố rất trọng đại nơi mà các vị Phật, Tiên , Th25n Thánh đồng tham dự để phân xử ai chánh, ai tà, thưởng phạt cõng minh, người có đức hạnh sẽ sống đời thượng cõ, kẻ ác sẽ bị trừng phạt đúng theo luật trời đã định. Nói vể thời gian nào thì Hội sẽ được thành lập thì không thể/chửa thẻ tiết lộ được vì "thiên cơ bất khả lậu".
Trích Chú Gia3ig Sám Giảng (1975)
- Sơn Lãnh
SƠN LÃNH: Cũng viết là sơn lĩnh. Có nghĩa: chót núi hay đỉnh núi. Ý chỉ cảnh rừng núi miền Thất Sơn.
Bởi nhìn lên các đỉnh núi miền Thất Sơn, vẫn còn mờ mịt những cây lẫn đá, chưa thấy gì gọi là quí báu, nên dân chúng chẳng chịu nghe lời giáo khuyên. Đức Giáo Chủ cho biết, từ đây Ngài sẽ nói những chuyện gần bên, trước mắt cho chúng sanh dễ hiểu, chớ không nói dài dòng hay ẩn dấu điều chi.
- Predestiny
By definition, Thiên Cơ is literally translated as a heavenly machine. In fact, it is to a layperson a mystery known only to Heaven (archaic) / inscrutable twist of fate/ top secret. It is hardly communicable to the average person, with the exception of supernatural beings.
In religious teachings, the concept of Heaven’s Secret or Machine is similar to what has been prearranged or predetermined by the Almighty God, the beginning and the end of the Cosmic Cycle, and the evolution of the participants, sentient, and non-sentient beings, during the movement of the Universe, in an orderly manner, or a universal Law.
Lord Master Huynh the Founder of Hoa Hao Buddhism, through his Oracles and Poems, often mentioned ‘Heavenly Machine’, and ‘Predestiny’. His concept has special characteristics as follows:
Heavenly secrets change every minute and have a significant impact on human society:
The Heavenly Machine turns every minute.
Vicissitudes change as though flying arrows.
(Madman’s Ode, Vol. II lines 13-14)
Because the cosmic order is changing so rapidly, the Master urges all people to quickly cultivate and progress on the path of Dharma that He has already laid out, and to diligently practice the Dharma of Buddha Recitation so that at the time of death they may be reborn in the Pure Land.
"Nhìn cuộc thế đổi thay quá gắt,
Máy Thiên-cơ mỗi phút mỗi thay.
Nẻo thạnh suy như thể tên bay,Đường vinh-nhục rủi may một lát."
(Giác Mê Tâm Kệ, Q.4, t. 14)
"Seeing the world changing so drastically,
The workings of Heaven change every minute.
The path of prosperity and decline is like an arrow in flight,The road to glory and disgrace, fortune and misfortune, is but a fleeting moment."
(Awakening from Delusion, Vol. 4, p. 14)
This sentence expresses that time does not wait for mortals anymore, as the divine plan has revealed signs to the Master, reminding each person to eliminate arrogant and wicked actions, to maintain pure...
- Thiên-Cơ
Vì cơ trời chuyển xoay quá gấp nên Đức Thầy giục thúc bá gia hãy mau tu tiến trên đường Đạo do Ngài đã chỉ vạch sẵn và rán hành trì Pháp Môn Niệm Phật để lúc lâm chung được vãng sanh về Cực Lạc.
Câu này nói lên thời gian khõng chờ đợi người trần gian nữa vì thiên cơ đã ứng điềm cho Đức Thầy thấy để nhắc nhở mỗi người hãy tự diệt bỏ những hành động ngang tàng hung ác, giữ tư tưởng, ngôn ngữ cho thuần chánh và luôn luôn tưởng Phật nhớ Phật. Tuy hiện giờ Đức Thầy nơi xa nhưng lúc nào Ngài cũng dùng hóa thân dạo khắp trần gian để rộng độ chúng sanh:“Tuy là hữu ảnh vô hình,
Chớ dân lòng tưởng sân trình đáo lai”.
(Từ Giã Bổn Đạo Khắp Nơi).
Ngài nhìn thấy số người nghe Kệ Giảng quá ít, phần đông là mắt lấp tai ngơ, nên lòng Ngài ngập tràn nỗi buồn thương, chứa chan dòng lệ.
- Western Paradise
"The Western Buddhas probably understand too much" refers to the carelessness of ordinary people who see the Buddhas as having worldly minds like themselves, unaware that the law of karma spares no one. If their hearts are kind and virtuous, blessings will naturally come; the Buddhas are not the ones who bestow favors or forgive sins. Although they reside in the Western Pure Land, they always remember sentient beings and understand what they are doing. And they will quickly save those who earnestly recite their names.
They constantly rebuke those who do not cultivate virtue and do good deeds, who continue to commit evil acts and then bring money and objects to the temple to worship, thinking that doing so will atone for their sins. Little do they know that the Buddhas understand every action and even the smallest thought of sentient beings, and they always welcome those who return to the Dharma with sincere hearts. As for those who bring many offerings to the temple to worship the Buddha, but only to seek blessings and not truly to practice, the Buddhas do not accept them.
Although the Buddhas reside in the distant Western Paradise, if anyone repents and sincerely remembers them, the Buddha will immediately respond and use his divine power to protect that practitioner. The Master also longs for all people to escape calamities and guide each other to the realm of the Immortals and Buddhas, so that they may all enjoy peace and liberation. He looks throughout the world and sees that the people suffer more than they enjoy, yet they constantly chase after material possessions and wealth, ultimately leading nowhere, only to see their suffering accumulate.
Through the following two lines of poetry, we see that the Master is one of those saviors of the world. The Evil Dragon is a metaphor for a future world of worldly struggles for power and dominance, where only the most virtuous and saintly figures can bring peace and stability to the...
- Đạo Thích-Ca
ĐẠO THÍCH CA: Đạo Phật, vì Đức Thích Ca là Giáo chủ Đạo Phật toàn cõi Ta bà. Truyện Quan Âm Thị Kính có câu:“Buồn muốn đi tu Đạo Thích Ca”.
"Đạo Thích-Ca nhiều nẻo cao sâu,
Hãy tìm kiếm cái không mới có."
Bởi thấy thời nay có số tăng ni trong các chùa tu theo sắc tướng thinh âm làm sai lạc chân truyền của Đạo Phật từ trước, nên Đức Thầy khuyên họ mau trở về với Chánh pháp vô vi:“Huyền pháp thâm trầm thơm bất tuyệt, Vô vi chánh Đạo hỡi người ôi !”(Cho Ông Tham Tá Ngà).
Có thế mới đúng chân truyền của Đức Phật Thích Ca và mới kết quả trên đường tu Phật. Vì rằng: tất cả hình tướng màu sắc đều là hư vọng, ảo ảnh. Người tu theo sắc tướng (hữu vi), khác nào kẻ bắt bóng trong gương, mò trăng đáy nước. Kinh Thiền Môn đã nói:“Tu mà cầu hình tướng bên ngoài, tuy trải qua nhiều kiếp, rốt cuộc chẳng đặng thành công. Nếu giác ngộ trở về xem bản tánh mình, thì trong một niệm liền chứng quả Bồ đề. Cho nên hành giả phải tìm cái chơn không (chơn tâm) mới là thật có”. Đức Giáo Chủ hằng dạy:
“Chuyện cao siêu Phật pháp còn dài,
Khó gặp chữ không không mà có”
(Sa Đéc).
Do đó, về nghi thức thờ phượng, Đức Thầy không cho tín đồ tạo thêm hình cốt, hoặc tụng tán trống mõ, chuông đẩu, mà:“…nên thờ đơn giản cho lòng tin tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào sự hào nháng bề ngoài”. Và:“Về cách cúng Phật, chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi. Nước lạnh tiêu biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu biểu cho sự tinh khiết, còn nhang dùng đặng bán mùi uế trược. Ngoài ra chẳng nên cúng một món gì khác cả. Bàn thờ Ông Bà cúng món chi cũng đặng”(Xem Cách Thờ Phượng…, tr.201-202 SGTV 2004).
Đức Thầy hằng khuyên dạy tín đồ hãy tu theo Đức Lục Tổ Huệ Năng, tức là tu đúng theo chánh pháp vô vi của Đức Thích Ca, vì Đức Lục Tổ đã chứng thọ chân truyền, chớ không nên tu theo Thần Tú, bởi phái nầy thường bày ra sắc tướng thinh âm, làm sai lạc chân lý của Đạo Phật. - Tây-Phương
"Phật Tây Phương có lẽ hiểu dư" muốn nói đến sự thiếu thận trọng của phàm nhân cứ xem chư Phật có phàm tâm như chính mình không biết rằng luật nhân quả không tha một ai. Nếu tâm họ họ thiện lành, làm nhơn đức, thì phước báo tự nhiên đến chứ Đức Phật không phải là người ban ơn hay tha tội cho ai được. Tuy ngài ở Tây Phương, nhưng lúc nào cưng nhớ đến chúng sanh và hiểu họ đang làm gì. Và các ngài sẽ mau mau cứu độ những ai tha thiết niệm danh hiệu các ngài.
Ngài hằng thống trách hạng người chẳng chịu tu thân hành thiện, mãi làm điều hung ác rồi mang tiền, vật đến chùa cúng bái, cho rằng làm như vậy sẽ trừ được tội lỗi. Nào ngờ mỗi hành động, hoặc tâm niệm nhỏ nhặt nào của chúng sanh, chư Phật đều thông suốt cả và các Ngài luôn tiếp độ những ai trở về với Đạo bằng tấm lòng thành thật. Còn những kẻ tuy đem lễ vật đến chùa cúng Phật rất nhiều, song chỉ để cầu phước và chẳng thật ý tu hành, thì các Ngài không hề chấp nhận.
Tuy chư Phật ngự từ bên cõi Tây phương xa thẳm, song nếu có một ai biết hối lỗi và thành tâm tưởng nhớ, tất Phật Ngài sẽ cảm ứng ngay và dùng thần lực đến gia hộ cho hành giả đó. Đức Thầy cũng hằng mong mỏi cho vạn dân được thoát qua tai nạn cùng dìu nhau đến cảnh Tiên Phật, hầu chung hưởng cảnh an nhàn siêu thoát. Ngài nhìn khắp cõi trần thấy trong bá tánh khổ nhiều vui ít, thế mà họ mãi chạy theo vật chất tiền tài, rốt cuộc đâu chẳng rồi đâu, chỉ thấy nghiệp khổ càng thêm chồng chất.
Qua hai câu thi sau, ta cưng thấy Đức Thầy là một trong các vị cứu đời đó. Con Nghiệt-Long là ẩn dụ nói về sau này thế giới tranh bá đồ vương, tài phép khôn lường, chỉ có các vi9 tỉn thánh mới an bang định quốc mà thôi.
"Ta chịu lịnh Tây-Phương thọ ký,
Gìn Nghiệt-Long đặng cứu dương-trần."NGHIỆT LONG: Con rồng hung dữ. Luận về nội tâm thì lòng độc hại là con rồng dữ. Còn luận theo cơ sấm, thì gần đến ngày tận diệt thế gian, sẽ có con thú (từ sấu tu sắp thành rồng) xuất hiện giết hại người hung dữ:“Chừng ấy nổi dậy phong ba, Có...
- Amitabha
Amitābha (Sanskrit pronunciation: [ɐmɪˈtaːbʱɐ], "Measureless" or "Limitless" Light), also known as Amituofo in Chinese, Amida Butsu in Japanese, Amita-bul in Korean, A Di Đà Phật in Vietnamese, and Öpakmé in Tibetan, is one of the main Buddhas of Mahayana Buddhism and the most widely venerated Buddhist figure in East Asian Buddhism.[2][3][4] Amitābha is also known by the name Amitāyus ("Measureless Life").[5]
Amitābha is the main figure in two influential Indian Buddhist Mahayana Scriptures: the Sutra of Measureless Life and the Amitābha Sūtra.[6] According to the Sutra of Measureless Life, Amitābha established a pure land of perfect peace and happiness, called Sukhāvatī ("Blissful"), where beings who mindfully remember him with faith may be reborn and then quickly attain enlightenment. The pure land is the result of a set of vows Amitābha made long ago. As his name means Limitless Light, Amitābha's light is said to radiate throughout the cosmos and shine on all beings. Because of this, Amitābha is often depicted radiating light, a symbol for his wisdom.[5] As per the name Amitāyus, this Buddha is also associated with infinite life, since his lifespan is said to be immeasurable. Amitābha's measureless life is seen as being related to his infinite compassion.[5]
Amitābha devotion is particularly prominent in East Asian Buddhism, where the practice of mindfulness of Amitābha Buddha (known as nianfo in Chinese, nembutsu in Japanese) is seen as a path to liberation open to everyone. Amitābha is also the principal Buddha in Pure Land Buddhism, which is a tradition focused on attaining birth in the pure land by relying on the power of Amitābha (also known as "Other Power") and faithfully reciting Amitabha's name. Amitābha is also a major Buddha in Tibetan Buddhism, where he is associated with pure land practices, as well as phowa (the transference of consciousness at the time of death).
The names Amitāyus and Amitābha (in various Chinese...
- A Di Đà
A DI ĐÀ PHẬT: Phạn ngữ Amitabhâ, Tàu dịch là Vô Luợng Thọ Phật. Ngài thọ mạng dày dặc vô biên triệu ức kiếp và Vô Lượng Quang Phật, hào quang của Ngài sáng vô cùng, chiếu khắp 10 phương, không bị sự vật nào ngăn che. Phật A Di Đà là Giáo Chủ cõi Tây Phương Cực Lạc.
Có nhiều kinh chép về sự tích A Di Đà, ở đây chúng tôi xin lược ghi hai chuyện.
1.- Căn cứ theo Kinh Bi Hoa: Vào thời quá khứ tại thế giới San Đề Lam, có vua Chuyển Luân Thánh Vương tên là Vô Tránh Niệm, có quan đại thần là Bảo Hải. Bảo Hải sanh được người con trai tướng mạo trang nghiêm, đức độ siêu thường, sau xuất gia tu hành đắc đạo hiệu là Bảo Tạng Như Lai.
Một hôm Đức Bảo Tạng đến thuyết pháp gần hoàng thành, vua Vô Tránh Niệm và quan đại thần Bảo Hải đến dự thính. Nghe pháp xong, vua quyết tu thành Phật để độ khắp chúng sanh. Ngài liền đến trước Đức Bảo Tạng Như Lai xin cúng dường các món y thực cho Phật và đại chúng trọn 3 tháng.
Đồng thời vua phát 48 lời đại nguyện rộng lớn. Đức Bảo Tạng liền thọ ký cho nhà vua nhiều kiếp sau sẽ thành Phật A Di Đà, làm Giáo chủ cõi Cực lạc.
2.- Theo Kinh Vô Lượng Thọ: Vào thời quá khứ lúc Phật Thế Tự Tại Vương ( Phạn ngữ là Lokisvara Bouddha ) ra đời, có một nhà vua tên là Nguyệt Thượng Luân Vương ( hiệu là Diệu Hỷ), hoàng hậu là Thù Thắng Diệu Nhan, đang ngự trị. Quốc Vương Diệu Hỷ và hoàng hậu sanh được 3 người con:
1./ Nhựt Nguyệt Minh.
2./ Kiều Thi Ca.
3./ Nhựt Đế Chúng.
Sau khi nghe Phật Thế Tự Tại Vương thuyết pháp, Thái tử Kiều Thi Ca bỏ ngôi xuất gia thọ Tỳ kheo giới. Phật đặt pháp danh cho Ngài là Pháp Tạng. Ngài liền quỳ trước mặt Phật phát 48 lời đại nguyện. Phật Thế Tự Tại Vương liền thọ ký cho Ngài sau sẽ thành Phật hiệu A Di Đà, làm Giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc.
Lúc bấy giờ quả địa cầu rúng đông, chư thiên ở các cõi Trời đều mưa hoa cúng dường, trổi nhạc chúc tụng mà tán thán rằng: “Ngài Pháp Tạng Tỳ kheo chắc chắn sẽ thành Phật A Di Đà”. - Bệ-Ngọc
BỆ NGỌC: Bệ là chỗ để thờ, hoặc chỗ để Vua ngồi, nơi ấy là bực cao, xây toàn bằng ngọc ngà châu báu. Đức Giáo Chủ có bảo (trong bài Thiên Lý Ca):
“Ai muốn gần bệ ngọc các lân,
Thì phải rán lập thân nuôi chí”.CÁC LÂN: Các là gác, lầu, điện đền nội các, Lân là cửa, bực cửa; nói chung là điện đền lầu các. Ý chỉ chỗ cao sang quyền quí của Vua quan ở. Đức Thầy có câu:“Vào các ra đài tột bực giàu sang”(Sấm Giảng Q.1)
LONG XA: Xe rồng, có khi gọi là xe Loan, ám chỉ xe xe kiệu mà chỉ có Vua Chúa mới được sử dụng.
Trích Chú Thích Sám Giảng (1975)
- beard and eyebrow
TU MI: Beard and eyebrows. In a broader sense, it refers to men: "Tu mi nam tu" (a man with beard and eyebrows). The Master said: "The virtuous minister is recorded in history books, The red temple is carved to honor the loyal minister with beard and eyebrows" (Sermon, Vol. 3).
The venerable Master always praises those who have great ambition, bravery and loyalty and whom he refers to as the "Tu MI", the beard and eyebrow carrier, in the Vietnamese traditional conception of a male.
- Quân-tử tu mi
QUÂN TỬ: Người có phẩm hạnh cao khiết, tài năng vượt trội hơn kẻ tầm thường. Mẫu người quân tử được Nho giáo đề xướng như bậc “Chí nhân quân tử”. Đức Thầy có câu:
“Chí quân tử lòng nhơn vạn đại,
Dốc làm sao rõ mặt tang bồng”.TU MI: Râu và lông mày. Nghĩa rộng là chỉ cho bậc nam nhi (đàn ông): “Tu mi nam tử”. Đức Thầy có câu:
“Hiền thần sách sử nêu ghi,
Miễu son tạc để tu mi trung thần”(Sám Giảng, Q.3).
"Tu mi nam tử" (鬚眉男子) vốn là thuật ngữ Hán Việt để chỉ người đàn ông hoặc con trai có khí phách hơn người. "Tu" là râu, "mi" là lông mày; cụm từ này lấy đặc điểm râu mày để chỉ diện mạo, nhân cách của bậc trượng phu.
Ý nghĩa chi tiết:
Nghĩa đen: Người đàn ông có râu mày.
Nghĩa bóng/Văn chương: Chỉ những người đàn ông có chí lớn, khí phách anh hùng, gánh vác việc lớn, sống có trách nhiệm, trung hiếu.
Ngữ cảnh sử dụng: Thường gặp trong văn thơ cổ, truyện kiếm hiệp hoặc các câu nói tôn vinh vẻ đẹp nam tính, trượng phu (ví dụ: "làm cho rõ tu mi nam tử").
Ví dụ: "Tu mi tỏ mặt trượng phu, Đem trung hiếu để trả thù non sông" (Soha Tra từ).
Cũng chỉ người thanh niên có mộng làm nẻn việc lớn nếu đất nước cần đến như trong câu thơ:
"Làm trai cho đáng nên trai,
Xuống Đông tỉnh, lên Đoài an." (Ca Dao)
Cũng có hạng chỉ biết rong chơi trụy lạc, ăn nói hàm hồ, cống cao tự đại, nhưng khi gặp người lâm nạn thì họ trơ mắt ra nhìn, chẳng hề có chút lương tâm ra tay giúp đỡ, lại còn thỏa thích nhạo chê là khác. Là bực râu mày nam tử, với bổn phận không tròn, họ đã chẳng biết tủi thẹn, lại còn khoe khoang tự đắc. Nên Đức Thầy than vãn cho cho họ,
Hổ mình là bực tu mi,
Chưa tròn bổn-phận mà ti tôn mình.(Quyển Ba, 361)
Còn có thể gọi là Đấng Râu Mày:
"Sống sanh ra phận râu mày,
Một đời một đạo tới ngày chung thân."
(̣Bài Tự Thán)
- Lục-Tự
CHỮ LỤC TỰ: Sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật.
TRÌ TÂM: Giữ gìn lòng mình cho thuần nhứt một niệm Phật, không hề để một vọng tưởng nào khác
xen tạp.
BẤT VIỄN: Chẳng lìa xa. Ý nói tâm không để tiếng niệm Phật vắng lâu mà phải niệm nối liền như dây
xích, khoen nầy mắc liền khoen khác.
LÂM NGUY: Gặp lúc nguy hiểm nghèo ngặt.Đoạn nầy Đức Giáo Chủ khuyên: nếu ai chuyên tâm trì niệm sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật, không để phút nào gián đoạn, thì lúc gặp tai nạn nguy hiểm sẽ được Phật Trời gia hộ, hoặc có người cứu thoát.
Cách đây (1975) khoảng 40 năm, báo chí có đăng câu chuyện ba anh Sĩ quan nọ, cùng đi trên chiếc phi cơ, rủi bị hư máy rớt xuống biển. Có điều lạ là phi cơ bị hư nhưng không chìm liền và ba anh chẳng bị thương tích gì cả. Phi cơ khác tới cứu, vớt ba anh lên, tức thời chiếc phi cơ hư chìm lút xuống nước. Sau hỏi ra được biết ba người ấy đã tu theo Pháp Môn Tịnh Độ và lúc nguy ngập đó chỉ còn biết niệm Phật chờ chết, không ngờ được thoát nạn.
Trường hợp nầy, suốt thời gian binh lửa tại đất nước Việt Nam, có rất nhiều người niệm Phật được hưởng ân huệ của Phật Thần. Nghĩa là nhờ sự chí tâm niệm Phật mà các người ấy đã bao lần thoát chết trước làn gió đạn mưa bom. Ông Sư Vãi Bán Khoai từng bảo:
“Niệm Phật có Phật vãng lai,
Lâm cơn nạn tám Phật sai cứu mình”.
-Đức Thầy hiện nay cũng từng nhắc nhở:
“Lòng sáu chữ nhớ không có ngớt,
Thì nạn tai cũng thoát như không”
(Sa Đéc) - Trụ-Kiệt
Đoạn giảng trên Đức Giáo Chủ cho biết Tây Bá Hầu (Văn Vương) xưa kia, được người đời tôn là Hiền Thánh, thế mà còn bị Trụ Vương bắt cầm tù tại Dũ Lý bảy năm. Huống chi công cuộc cứu đời của Ngài thời nay làm sao tránh khỏi sự kềm kẹp của kẻ cường quyền vô đạo và tiếng đời gièm pha biếm nhẻ.
Nhìn lại chúng sanh đang lăn lóc trong bể trần thống khổ, hết nạn nầy tới ách kia không dứt, chẳng khác nào thời Kiệt, Trụ xưa kia dân chúng phải buồn than khóc hận, dưới chế độ cay nghiệt của hai nhà vua ấy. Bởi Kiệt, Trụ quá nhu nhược nên kẻ bị chết thiêu, người thì mất mạng; cơ đồ sự nghiệp ông cha về tay người khác và còn lưu tiếng cho muôn đời phỉ nhổ.
Nghĩ thương cho Đức Thánh Vương, là bậc thông minh hiền đức, noi gương Nghiêu, Thuấn tu thân lập hạnh, hầu:“Dựng cuộc hòa minh khắp đại đồng” cho nhân loại được hưởng nhờ.Như vào đời Thương (Trung Hoa) có Trụ Vương đắm say sắc đẹp của Đắc Kỷ (nguyên là hồ ly tinh). Đắc Kỷ gạt vua Trụ khi xây cất Bá Lộc Đài xong sẽ cho chư tiên giáng thế. Vua Trụ tưởng thiệt tin theo. Đắc Kỷ thông tin cho quyến thuộc nhà chồn hay. Kẻ biến tiên ông người hóa tiên cô đằng vân đến dự tiệc. Vua bắt Hoàng thúc Tỷ Can đãi rượu, Tỷ Can bất mãn nhưng vì lịnh vua nên chẳng dám cãi. Các giả tiên mê ăn uống say mèm, tà phép hết linh, ló đuôi ra ngoài, bay hơi chồn nực mũi.
Tỷ Can nhờ mạnh rượu không say, nên lẻn về bàn với Hoàng Phi Hổ cho binh tướng theo dõi đám giả tiên. Bởi quá say, bọn ấy đằng vân không nổi đành dìu nhau kéo bộ. Hoàng Phi Hổ chờ bọn giả tiên chui vào hang xong bèn ra lịnh lấp củi vào miệng hang thiêu rụi hết. Lửa tắt, bươi tro ra thấy toàn là xác chồn, hai người truyền lột da may áo hồ cừu dâng vào trào can vua.KIỆT: Đời vua chót hết (thứ 17) của nhà Hạ (2205-1786 TCN). Vua Kiệt tên thật là Lý Quí, tục gọi là Hạ Kiệt, một ông vua có uy vũ, nhưng rất bạo ngược.
Lúc thế còn mạnh, vua Kiệt đem binh đánh họ Hữu Thị. Họ nầy thất thế phải dâng nàng Muội Hỷ để cầu hòa. Từ ngày được mỹ nhân, vua Kiệt đâm ra... - Cực-Lạc
CỰC LẠC: Đọc cho đủ là Cực Lạc Quốc, là cõi nước tột vui, tối diệu. Phạn ngữ: (Scr.) là Sukhavati, chỉ Quốc độ của Đức Phật A Di Đà, do công đức và nguyện lực của Ngài tạo nên. Căn cứ theo những quyển kinh: A Di Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô lượng Thọ thì cách đây mười muôn ức cõi Phật, về hướng Tây có một thế giới, gọi là Cực Lạc (cũng gọi là An Dưỡng Quốc); cõi nầy từ đất cát đến cung điện toàn bằng bảy báu (vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não). Hoa sen nơi đó có năm sắc; nước có tám công đức (1. Trừng thanh tức lặng trong, 2. Thanh lãnh tức man mát, 3. Cam mỹ tức ngon ngọt, 4. Khinh nhuyễn tức mềm nhẹ, 5. Nhuận trạch tức trơn bóng), 6. An hoà tức yên ổn hòa nhã, 7. Trừ cơ khát và 8. Nuôi dưõng các căn.); chim kêu thành tiếng pháp, cây báu diễn lời lành; y phục, nhà cửa và các thức ăn, uống đều tùy ý hiện ra. Nói tóm lại nơi ấy là một cõi hoàn toàn an vui, trong sạch, không có những nỗi khổ và ô trược như cõi Ta Bà của chúng ta đang ở.
Trong Kinh Tiểu Bản Di Đà, Phật có phán với Ngài Xá Lợi Phất:“Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc ? Kỳ Quốc chúng sanh vô hữu chúng khổ, đản thụ chi lạc, cố danh Cực lạc”.(Cõi ấy vì sao gọi là Cực Lạc ? Vì chúng sanh cõi ấy không có những sự khổ, chỉ huởng các sự vui; bởi thế nên gọi là Cực Lạc).
Kẻ tu hành bất luận xuất gia hay tại gia, nếu ai có đủ tín, nguyện, và trì niệm sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật một cách chí thành, chí thật thì khi lâm chung được Đức Phật A Di Đà tiếp rước, linh hồn được vãng sanh về cõi của Ngài, thoát khỏi vòng luân hồi sanh tửTrích Chú Giải Sám Giảng (1975)
- Mt. Sam
SAM MOUNTAIN: Also known as Vinh-Te Mountain, a mountain located in Vinh Te village, Chau Phu commune, Chau Phu district, in the south, 5 km from Chau Doc city, An Giang province. On the mountain slopes are the Tay An Pagoda and the tomb of the Buddha Master, the mausoleum of prefect Thoai Ngoc Hau and his wife, and the temple of the Lady of the Land.
In the same province of An Giang, núi Sập or Mt Sập as it has been the main quarry of the province for rock extraction):
SAP MOUNTAIN: Also known as Thoai Son, located in Thoai Son commune, Dinh Phu commune, An Giang province (Southern Vietnam). On the mountain is the temple of Thoai Ngoc Hau, built in 1882. - Diao-Chan and Lu-Bo
Lü Bu (pronunciation 呂布ⓘ; died 7 February 199),[b] courtesy name Fengxian, was a Chinese general and warlord who lived during the late Eastern Han dynasty. Originally a subordinate of Ding Yuan, he murdered the minor warlord and defected to the powerful Dong Zhuo. In 192, he killed Dong Zhuo after being instigated by Wang Yun and Shisun Rui (士孙瑞),[3] but was defeated and driven away from Chang'an by Dong Zhuo's followers.
From 192 to early 195, Lü Bu consecutively sought shelter under warlords such as Yuan Shu, Yuan Shao, and Zhang Yang. In 194, he managed to take control of Yan Province from Cao Cao, but Cao took back his territories within two years. In 195, Lü Bu turned against Liu Bei, who had offered him refuge in Xu Province, and seized control of the province from his host. Although he had agreed to an alliance with Yuan Shu earlier, following Yuan declaring himself emperor in a treason against Emperor Xian of Han, Lü Bu joined Cao Cao and others in attacking the pretender. In 198, he sided with Yuan Shu again and came under attack by the combined forces of Cao and Liu, resulting in his defeat at the Battle of Xiapi in 199. He was captured and executed on Cao Cao's order.
Although Lü Bu is depicted in both historical and literary sources as an exceptionally formidable warrior, he was also notorious for his volatile temperament and political unreliability, traits that contributed to his downfall. His life is dramatized in the 14th-century novel Romance of the Three Kingdoms, which introduces fictional elements such as his romance with Diaochan.
Diaochan 貂蟬 was one of the Four Beauties of ancient China. Largely a fictional character, she is best known for her role in the 14th-century historical novel Romance of the Three Kingdoms, in which she becomes a key instrument in a scheme devised by Wang Yun, seducing Lü Bu and thereby provoking the formidable warrior to betray and kill his adoptive father, the tyrannical warlord Dong Zhuo....
- Kỷ-Mão
Là năm 1939, người dân ở Việt Nam bị thất mùa đói khổ. Chính năm ấy, Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng nền Đạo.
Cũng là năm Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng nền Đạo Phật Giáo Hòa Hảo tại Tổ Đình Hòa Hảo vào ngày 18 Tháng 5 âm lịch, khởi đầu cho một chương mới cho việc canh tân Phật giáo Việt Nam và thích nghi việc hành đạo của người tín đồ của ngài vào hoàn cảnh thực tế cũa đất nước và thế giới. Mão có nghĩa là Mèo còn chữ Kỷ là một chi trong mười chi tượng của nó Đất. Người Hoa dùng chữ Thỏ thay cho chữ Mèo đế đặt tên cho nám này theo âm lịch.
- Điêu-Thuyền, Lữ-Bố
Điêu Thuyền là tên cô gái có nhan sắc tuyệt vời, con nuôi của Vương Doãn (quan Tư Đồ nhà Hán đời Tam Quốc bên Trung Hoa); còn Lữ Bố tự là Phụng Tiên, người ở đất Cửu Nguyên (Trung Hoa) cũng đời Tam Quốc. Lữ Bố là người võ dõng nhưng vô mưu và bất nghĩa. Lúc trước, Lữ Bố làm con nuôi của Đinh Nguyên, chống lại Đổng Trác, về sau lại giết Đinh Nguyên qua phò Đổng Trác (cũng làm con nuôi). Đổng Trác khi dụ được Lữ Bố liền mưu đồ đoạt ngôi nhà Hán.
Quan Tư Đồ Vương Doãn muốn cứu nguy vua Hán bèn thiết lập Liên hoàn kế (mỹ nhân): Ông hứa gả Điêu Thuyền cho Lữ Bố nhưng lại đem Điêu Thuyền dâng cho Đổng Trác trước. Kết quả y như dự định của Vương Doãn, vì quá đắm say sắc đẹp của Điêu Thuyền mà Lữ Bố quên nghĩa cha con, giết chết Đổng Trác để giành lại Điêu Thuyền.
Vậy, thói Điêu Thuyền Lữ Bố là thói vô nghĩa trăng hoa bất chánh, làm thương luân bại lý nước nhà. Thơ Lục Vân Tiên có câu:
“Trực rằng: Ai Lữ Phụng Tiên,
Mà hòng đem thói Điêu Thuyền trêu ngươi !”Trích từ Chú Giải Sám Giảng (1975)
- Thiên-Trước
CẢNH THIÊN TRƯỚC: Cũng đọc là Thiên Trúc, tức là xứ Ấn Độ, văn học Tàu gọi Ấn Độ là Thiên Trước. Bởi Ấn Độ là nơi Đức Phật đản sanh và cũng là nơi phát xuất Đạo Phật, cho nên gọi Thiên Trước là xứ Phật (Tây Thiên). Vậy, cảnh Thiên Trước là chỉ cho cảnh Phật, Đức Thầy có câu:
“Bát Nhã chẳng đưa người tội ác,
Thuyền từ nào rước lại Tây Thiên”.
(Luận Việc Tu Hành)Cũng đọc là Thiên Trúc, hay gọi là Tây Thiên Trước, bởi nơi ấy có Phật giáng sanh và phát xuất đạo Phật; từ đó người tu Phật cũng coi như vậy. Nhưng chữ Thiên Trúc còn có nghĩa rộng là chỉ cho cõi Tây phương Cực lạc (An Dưỡng Quốc) của Đức Phật A Di Đà. Trong Kệ Dân (quyển Nhì), Đức Huỳnh Giáo Chủ có cho biết:
“Cảnh Thiên Trước thơm tho nồng nặc,
Chẳng ở yên còn xuống phàm trần”.
Và:
“Cảnh Tây Thiên báu ngọc đầy lầu,
Rán tu tỉnh tìm nơi an dưỡng”. - Bảy Núi
Nghĩa của chữ Thất sơn, tức là bảy núi ở vùng tỉnh Châu Đốc, gần biên thùy Miên-Việt. Bảy ngọn núi ấy gồm có:
1.- Anh Vũ sơn (núi Két): Cao 125m, thuộc xã Thới Sơn, quận Tịnh Biên (Châu Đốc). Sở dĩ núi nầy lấy tên núi Két, là vì trên chót mỏm đá giống hình mỏ chim két.
2.- Ngũ Hồ sơn (Núi Dài Năm Giếng, gần núi Két): Chưa biết rõ cao bao nhiêu thước, trên giữa núi có 5 giếng nước nhỏ.
3.- Thiên Cẩm sơn (núi Gấm Trời): Cũng có tên là núi Cấm, cao 716m, dài 7.500m, ngang 6.800m, nằm giữa hai quận Tịnh Biên và Tri Tôn (Châu Đốc). Núi nầy khi xưa có tên núi Gấm. Có lẽ vì các rặng cây xanh và các chỏm đá trắng, trên núi có “Tứ vi mây phủ nhiễu đoanh” mà hiện ra màu gấm vóc đẹp xinh. Nhưng sau nầy có mang tên núi Cấm là vì khi xưa Hoàng tử Nguyễn Ánh bị giặc Tây Sơn truy nã, có ẩn ánh tại núi nầy, các quan ra lịnh cấm không cho dân chúng đến, viện lẽ nói nơi đây có nhiều ác thú.
-Cũng có người cho rằng vì Đức Phật Thầy Tây An tiên tri ngày sau tại núi nầy sẽ có đền vàng điện ngọc của Thánh Vương, nên Ngài cấm các đệ tử không cho cất chùa hay ở trên nầy để tránh sự làm ô uế non linh. Điều nầy, Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng có căn dặn tín đồ như thế.
4/- Liên Hoa sơn (núi Tượng): Cao 115m, dài 600m, ngang 400m, thuộc xã Ba Chúc, quận Tri Tôn (Châu Đốc). Sở dĩ có tên núi Tượng vì đứng xa nhìn lên chót thấy giống hình con voi.
5/- Thủy Đài sơn (núi Nước gần núi Tượng): Cao 50m, cùng thôn với núi Tượng.
6/- Ngoạ Long sơn (núi Dài): Cao 580m, dài 8.000m, thuộc quận Tri Tôn (Châu Đốc). Người ta đặt tên như thế vì núi nầy dài tới 8 cây số ngàn giống hình con rồng nằm.
7/- Phụng Hoàng sơn (núi Tô): Cao 614m, dài 5.800m, ngang 3.700m, thuộc quận Tri Tôn (Châu
Đốc).
Trên đây là dẫn theo tài liệu nhiều người kể lại, nhưng xét ra miền bảy núi còn có nhiều ngọn núi nữa, như núi Trà Sư, núi Bà Đội Om, núi Nam Vi, v.v…Vì vậy nên danh từ Thất sơn (bảy núi) còn có nghĩa chỉ chung tầt cả đồi núi thuộc tỉnh Châu Đốc.
Ông Ba Thới có câu:
“Mắt đoái nhìn Tiên cảnh Thất sơn,
Ngùi ngùi nhớ Chúa đội... - Phạn-ngữ
Tiếng Pali của Ân Độ thường được đại đa số quần chúng sử dụng trong việc giao tiếp xã hội.
- Three-Words
Chinese pronounced as San-Zi-Jing san.
In this passage, the Master explains that the "Three-Word Sutra" of the Scriptures states: The original nature of human beings was inherently kind and virtuous; this nature was of the same essence as that of the gods and Buddhas. However, due to a moment of unconsciousness, karma led to reincarnation, resulting in the birth of sentient beings. At birth, human nature is very innocent and devoid of desires. Gradually, as one grows, one becomes influenced by the surrounding society, becoming engrossed in fame, wealth, and sensual pleasures, committing evil and sinful acts, thus burying one's inherent goodness.
If people are not guided by moral teachings, how can they cultivate virtues and regain their good nature? Therefore, the Master wholeheartedly reminds everyone to remember their original inherent goodness (Awakening).
And on his path of awakening all beings, he disregards the criticisms or dislikes of others.
- Jade Emperor
Ông Trời (lit. 'old man sky/heaven'), commonly referred to as Trời ("sky, heaven"lit. 'sky, heaven'), is one of the most important gods in traditional Vietnamese folk religion. Later, due to the influence of Taoism, he was merged and identified with the Jade Emperor, so he was called the Ngọc Hoàng Thượng Đế, often referred to as Ngọc Hoàng or Thượng Đế.[1][2][3][4]
Names
Ông Trời is referred to by many names depending on the religious circumstances. In South Vietnam, he is often called Ông Thiên (翁天). In Đạo Mẫu, he is called the Vua Cha Ngọc Hoàng (𢂜吒玉皇, Monarchical Father Ngọc Hoàng), as he is the father of Liễu Hạnh. In Vietnamese Buddhism, he is frequently identified with Śakra (Đế Thích Thiên; 帝釋天).
Later, under the influence of Chinese Taoism, he was also identified with the Jade Emperor, commonly referred to as Ngọc Hoàng (玉皇) — a shortened form of Ngọc Hoàng Thượng Đế (玉皇上帝) or Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝).
Mythology
Ông Trời was originally a Vietnamese god,[1] but due to later influence by Taoism from China, this god was identified and linked with the Jade Emperor (Ngọc Hoàng).
- Ma-Ha [M.H.]
MA HA: Phiên âm của Phạn ngữ (Scr.) Mahâ, dịch nghĩa là rộng lớn. Sự rộng lớn ấy ví như hư không, không bờ bến, nó vẫn rỗng thông sáng tỏ, đồng với bản thể của đạo tâm. Cho nên khi nói đến Ma Ha tức là nói đến Đại Đạo. Vậy Đức Thầy dạy chúng ta:“…sớm kiếm chữ Ma Ha”, là bảo sớm tìm Đại Đạo, vì trong đó có đủ giáo lý diệu mầu giúp ta hườn nguyên phản bổn, tức trực kiến được bản thể chơn như tự tánh. Đức Thầy dạy:
“Hiệp sức tớ Thầy truyền diệu pháp, Cho đời thấu tỏ Đạo ma ha”MA HA THOÀN NHỎ: Ma ha chỉ nền Đạo rộng lớn. Nó vẫn rỗng không sáng tỏ, đồng với bản thể với đạo
tâm (nói đến Ma ha là nói đến Đại Đạo). Thoàn nhỏ: Chiếc ghe nhỏ của Đức Ông, Đức Huỳnh Giáo Chủ có xác nhận:
“Thoàn nhỏ ly gia vị tất nan,
Bửu sanh du lịch lục châu giang.
Kim sơn thương mãi toàn lê thứ,
Thức tỉnh bá gia giấc mộng tràng”.
MA HA THOÀN NHỎ DỌN RỒI ĐA: Nền đại Đạo rộng lớn của Phật Giáo nói chung, PGHH nói riêng, Đức Huỳnh Giáo Chủ đã ra đời trước ngày sáng tác sáu tháng, tại Thánh địa Hòa Hảo, nơi phát tích nền Đại Đạo hiện đại. Đức Thầy đã phương tiện mượn chiếc ghe lịch sử của Đức Ông đi chu du khắp Nam Kỳ lục tỉnh, tỉnh thức bá gia, Ngài đã dọn rồi, tức đã ra đời giáo Đạo. Nền Đại Đạo đó tuy hiện giờ bó gọn trong chiếc thoàn nhỏ nhưng mai sau nó sẽ bành trướng sâu rộng như nền Đạo Phật Thích Ca. Như Ngài xác nhận:
“Ta bây giờ tu niệm tầm thường,
Sau danh thể sạ hương khắp chốn”.
Nói rõ, Đức Tôn Sư mượn sự để bày lý. Dùng chiếc thoàn nhỏ đi du lịch để nêu sự kiện thực tế để hóa độ đời.
Chớ chơn linh Ngài biến mấy chiếc ghe to cũng được.
Như Ngài xác nhận: “Đến đây Thầy tớ hóa mười”. Chỉ có Thầy trò mà biến thành mười người để diễn xuất sơn đông.MA HA: Phạn ngữ Ma ha. Dịch nghĩa: Rộng lớn. Sự rộng lớn ấy ví như hư không, đồng bản thể với đạo tâm, nói đến Ma ha tức là nói đến đạo, cái gốc để hoàn nguyên phản bổn, trực kiến chân như tự tánh. Đức Thầy có câu: “Nước ma ha tưới tắt lòng phàm”.
Trích từ Chú Giải Sám Giảng Thi Văn Giáo Lý, 1975
- Cửu-Huyền
VỌNG CỬU HUYỀN: Vọng bái Tổ Tiên Ông Bà cha mẹ. Ý chỉ sự thờ cúng “Cửu Huyền Thất Tổ” của người tín đồ PGHH, phải thường xuyên mỗi ngày hai thời, không nên quên lãng. Đức Thầy đã dạy;
“Sớm chiều bình đẳng chớ lơi,
Thường hành như vậy nhớ lời đừng sai”. (Từ Giã Làng Nhơn Nghĩa)“Chữ Hiếu” của Đức Huỳnh Giáo Chủ không phải đợi đến ngày tết mà thường nhựt ngày hai bữa cơm, có chi cúng nấy, nguyện vái ông bà cha mẹ quá vãng về ăn cơm với mình. Điều cần nhứt là lo tu cầu và nuôi cha dưỡng mẹ lúc còn sanh tiền. Đó mới thật đạo hiếu. Đồng quan điểm này, Thánh nhơn đã bảo: “Lập thân hành đạo dương danh ư hậu thế, dĩ hiển kỳ phụ mẫu hiếu chi chung dã”. (Lập thân hành đạo để tiếng đời sau, đó là cách báo hiếu sau cùng của người con chí hiếu vậy). Hiện nay Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng sách tấn:
“Rán tu đắc đạo cứu Cửu huyền,
Thoát chốn mê đồ đến cảnh Tiên.
Ngõ đáp ơn dày công sáng tạo,
Cho ta hình vóc học cơ huyền”.Ở đây Đức Huỳnh Giáo Chủ khuyên ta bỏ bớt những điều dị đoan mê tín, tức là không nên sát sanh hại vật mà cúng tế một thần thánh, hay cúng kiếng ông bà trong ba ngày xuân nhựt. Vì đó là việc cổ hủ, trái với luật lệ công bằng của tạo hóa, vì chơn lý của đạo Phật là giết người phải đền mạng, chém một dao trả một dao. Đằng
này, cúng tổ tiên quá vãng lại sát sanh hại vật. Đó là do dị đoan mê tín do tà thần cám dỗ.Trích từ Quyển Chú Giải QUYỂN HẠ Phần Thi Văn Giáo Lý Tập 1/2 Chú Giải Các Bài Thơ Nôm, TG THIỆN TÂM
- Bát-Nhã
BÁT NHÃ THOÀN: Cũng đọc là thuyền bát nhã. Bát Nhã là phiên âm của Phạn ngữ (Scr.) Prajna, một danh từ đặc biệt trong Phật pháp, bao gồm nhiều ý nghĩa, dịch gọn là Trí huệ, là thanh tịnh sáng suốt. Bát nhã lại có 3 thứ:
1.- Thật tướng bát nhã: Cái linh trí sáng mầu, thường tồn bất biến của mỗi chúng sanh đều sẵn có (trí vô sư).2.- Quán chiếu bát nhã: Cái trí sáng quán sát thấu suốt, phân biệt các pháp, người tu hành nhờ tịnh lự, tư duy mà mở thông.
3.- Văn tự bát nhã: Sự sáng suốt, thông hiểu lý nghĩa, mầu nhiệm cao sâu trong các kinh điển đạo Phật; nhà tu nhờ học rộng nghe nhiều, sưu tầm tra cứu mà thấu đạt.Sở dĩ gọi Bát Nhã là chiếc thuyền, là vì trí huệ có diệu năng đưa mình và độ chúng từ bờ mê sang bến giác. Chính nó là một trong sáu pháp “Ba-la-mật” của chư Bồ Tát thường hành. Đức Thầy từng bảo:
“Thuyền bát nhã ta cầm tay lái,
Quyết đưa người khỏi bến sông mê”.
(Diệu Pháp Quang Minh)Trong Kinh Di Giáo, Đức Phật dạy:“Trí huệ (Bát nhã) là chiếc thuyền bền chắc, không một lượn sóng dục tình nào đánh đắm được, nó hay đưa người khỏi biển: sanh, lão, bịnh, tử. Là món thuốc thần diệu chữa lành các thứ bịnh thất tình lục dục.v.v…Là ngọn đuốc tột sáng, chiếu tan lớp vô minh vọng hoặc. Là lưỡi búa (kiếm) thật bén chặt đứt cội phiền não, tà kiến…”
Đức Thầy hiện nay cũng bảo:
“Kiếm huệ phi tiêu đoàn chướng nghiệp,Phật tiền hữu nhựt vĩnh an nhiên”.
(Hiếu Nghĩa Vi Tiên)
Bởi diệu năng của trí Bát nhã như thế, nên Ngài bảo:“Phải xả thân tầm Bát Nhã thoàn”.(Kệ Dân, Q.2)Trích Chú Giải Sám Giảng (1975)
synonym: Boat of Insight, Prajnamita, Prajna
- Di-Đà [SG]
1.- Căn cứ theo Kinh Bi Hoa: Vào thời quá khứ tại thế giới San Đề Lam, có vua Chuyển Luân Thánh Vương tên là Vô Tránh Niệm, có quan đại thần là Bảo Hải. Bảo Hải sanh được người con trai tướng mạo trang nghiêm, đức độ siêu thường, sau xuất gia tu hành đắc đạo hiệu là Bảo Tạng Như Lai.
Một hôm Đức Bảo Tạng đến thuyết pháp gần hoàng thành, vua Vô Tránh Niệm và quan đại thần Bảo Hải đến dự thính. Nghe pháp xong, vua quyết tu thành Phật để độ khắp chúng sanh. Ngài liền đến trước Đức Bảo Tạng Như Lai xin cúng dường các món y thực cho Phật và đại chúng trọn 3 tháng. Đồng thời vua phát 48 lời đại nguyện rộng lớn. Đức Bảo Tạng liền thọ ký cho nhà vua nhiều kiếp sau sẽ thành Phật A Di Đà, làm Giáo chủ cõi Cực lạc.2.- Theo Kinh Vô Lượng Thọ: Vào thời quá khứ lúc Phật Thế Tự Tại Vương ( Phạn ngữ là Lokisvara Bouddha ) ra đời, có một nhà vua tên là Nguyệt Thượng Luân Vương ( hiệu là Diệu Hỷ), hoàng hậu là Thù Thắng Diệu Nhan, đang ngự trị. Quốc Vương Diệu Hỷ và hoàng hậu sanh được 3 người con:
1./ Nhựt Nguyệt Minh.2./ Kiều Thi Ca.
3./ Nhựt Đế Chúng.
Sau khi nghe Phật Thế Tự Tại Vương thuyết pháp, Thái tử Kiều Thi Ca bỏ ngôi xuất gia thọ Tỳ kheo giới. Phật đặt pháp danh cho Ngài là Pháp Tạng. Ngài liền quỳ trước mặt Phật phát 48 lời đại nguyện. Phật Thế Tự Tại Vương liền thọ ký cho Ngài sau sẽ thành Phật hiệu A Di Đà, làm Giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc.
Lúc bấy giờ quả địa cầu rúng đông, chư thiên ở các cõi Trời đều mưa hoa cúng dường, trổi nhạc chúc tụng mà tán thán rằng: “Ngài Pháp Tạng Tỳ kheo chắc chắn sẽ thành Phật A Di Đà”.Trích Chú Giải Sám Giảng (1975)
- Nam-trào
NAM TRÀO: Cũng đọc là Nam triều tức là triều đình nhà Nam. “Gái Nam Trào”, ý nói hiện nay người
con gái nào giữ vẹn tiết trinh, mới xứng đáng là tôi dân của nước Việt Nam sau nầy.TIẾT TRINH: Cũng đọc là trinh tiết, tức là lòng trong sạch của giới nữ, không thể yêu đương một
người đàn ông nào không phải là chồng chính thức của mình: “Gái thời tiết hạnh là câu trau
mình”(Lục Vân Tiên).
LỜI THÁNH HIỀN: Chỉ cho lời giáo huấn của Đức Khổng Tử và các bậc Thánh Triết Hiền Nhân thuộc
môn đồ kế truyền Đạo lý của Ngài. Những lời lẽ ấy gồm trong Ngũ Kinh: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Lễ,
Kinh Xuân Thu và Tứ truyện (Tứ thơ: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử.) Trong đó biết bao
lời lẽ chỉ dạy con người tu tập theo để trở nên bậc Thánh Hiền như các Ngài.Trích Chú Thích Sám Giảng (1975)
- Six-Provinces
The Six Provinces of Southern Vietnam (Vietnamese: Nam Kỳ Lục tỉnh, 南圻六省 or just Lục tỉnh, 六省) is a historical name for the region of Southern Vietnam, which is referred to in French as Basse-Cochinchine (Lower Cochinchina, or Hạ Đàng Trong).[1] The region was politically defined and established after the inauguration of the Nguyễn dynasty in 1802, and called by this name from 1832, when Emperor Minh Mạng introduced administrative reforms.
The six provinces into which Emperor Minh Mạng divided Southern Vietnam in 1832 are:
- Phan Yên, later changed name to Gia Định (provincial capital: Sài Gòn)
- Biên Hòa (provincial capital: Biên Hòa)
- Định Tường (provincial capital: Mỹ Tho)
- Vĩnh Long (provincial capital: Vĩnh Long)
- An Giang (provincial capital: Châu Đốc)
- Hà Tiên (provincial capital: Hà Tiên)
These provinces are often subdivided into two groups: the three eastern provinces of Gia Định, Định Tường, and Biên Hòa; and the three western provinces of Vĩnh Long, An Giang, and Hà Tiên.
The French occupied three eastern provinces in 1862 during the Cochinchina campaign and eventually annexed all six provinces in 1867, establishing the colony of French Cochinchina. In October 1887, Cochinchina was integrated into French Indochina, which lasted until March 1945.
- Nam-Kỳ

Đất Nam Kỳ vào đầu thời nhà Nguyễn, cho đến trước năm 1841. Nam Kì Lục tỉnh (南圻六省) hay Lục tỉnh (六省), là tên gọi của vùng Nam Bộ vào đầu thời nhà Nguyễn, tức là khoảng thời gian từ 2 năm 1831 và 1832 (cải cách hành chính của Minh Mạng) tới năm 1862 (khi Pháp chiếm 3 tỉnh Miền Đông) và năm 1867 (khi Pháp chiếm nốt 3 tỉnh Miền Tây). Đương thời, người Pháp gọi Nam Kì Lục tỉnh bằng cái tên Basse-Cochinchine[1] (tức là vùng Cochinchine "hạ" hay vùng Hạ Đàng Trong).
Vùng trước đó thuộc Campuchia, sáp nhập từng phần vào Đàng Trong bắt đầu từ năm 1658 đến năm 1760 thì hoàn tất.[1]
Sự hình thành Lục tỉnh

Nam Kỳ Lục tỉnh trong bản đồ cổ của nhà Nguyễn, (tên các tỉnh được viết trong khung màu đỏ, từ phải sang trái là tên các tỉnh: Biên Hòa (邊和省), Gia Định (嘉定省), Định Tường (定祥省), An Giang (安江省) ở hàng trên, và Vĩnh Long (永隆省), Hà Tiên (河仙省) ở hàng dưới). Theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán (nhà Nguyễn), vào năm Mậu Dần (1698) chúa Nguyễn Phúc Chu cho lập phủ Gia Định. Năm Nhâm Tuất (1802) vua Gia Long đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định; đến năm 1806 đổi tên trấn Gia Định ra Gia Định Thành (hay tổng trấn Gia Định) gồm 5 trấn:[2]
- Phan trấn
- Biên trấn
- Vĩnh trấn
- Định trấn
- Hà tiên
Năm Minh Mạng thứ 12 (Tân Mão, 1831) và Năm Minh Mạng thứ 13 (Nhâm Thìn, 1832), vua Minh Mạng bãi bỏ Gia Định Thành, đổi các trấn thành tỉnh, chia 5 trấn của Gia Định Thành trước đây thành 6 tỉnh (Lục tỉnh) gồm Phiên An, Biên Hòa, Định Tường (1831); Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên(1832). Hai năm sau (Giáp Ngọ, 1834), vùng Lục tỉnh thuộc Gia Định Thành trước đây được gọi chung là Nam Kỳ. Từ đó có tên gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh.

Bản đồ Nam Kỳ năm 1838, trích từ An Nam Đại Quốc Họa Đồ. Đó là các tỉnh:
- Lục-Châu
LỤC CHÂU: Sáu châu nằm trong sáu trấn, cũng gọi Lục tỉnh ở miền Nam Việt Nam (Nam kỳ) vào thời nhà Nguyễn, Vua Gia Long chia làm sáu trấn: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Long Hồ, An Giang và Hà Tiên. Đến năm Tân Mão (1831) vua Minh Mạng đổi sáu trấn ra sáu tỉnh, tức là sáu châu (tên tỉnh cũng y như trên). Đến thời kỳ Pháp thuộc 6 tỉnh nầy chia ra 20 tỉnh, rồi 21 tỉnh, tức tỉnh Vũng Tàu, trước đó thuộc tỉnh Bà Rịa. Danh từ Lục Châu, Đức Thầy có đề cập nhiều lần trong Sấm Giảng Thi Văn của Ngài:
“Thoàn nhỏ ly gia vị tất nan,
Bửu sanh du lịch Lục Châu giang.
Kim Sơn thương mãi toàn lê thứ,
Thức tỉnh bá gia giấc mộng tràng”.
(Bài Cho Đức Ông Mất Ghe)Lục Châu còn có tên là Lục Tỉnh: Sáu tỉnh miền Nam của Việt Nam thời vua Minh Mạng trào Nguyễn (xem thêm chữ Lục châu câu 56, Q.1)
- Nam-Việt
Đức Huỳnh Giáo Chủ thường nhắc đến hai từ Nam-Việt thay vì Việt Nam. Có một số lý do chúng ta có thể đoán định hai từ này ám chỉ phần đất mà người Pháp gọi là Nam Kỳ Lục Tỉnh, hay Cochinchine. Phạm vi ngài chu du hoằng pháp, những tài liệu ngài để lại, nói về sáu tỉnh miền Nam, như trong quyển một Sám Giảng, có tựa đề Di Dạo Luc Châu.
Theo tác giã Thiện Tâm, ngài cũng hay nói đến Phương Nam, có thể đây ám chỉ nước Việt Nam. Cũng có nghĩa cõi Nam Diêm Phù Đề, tức Nam Thiện Bộ Châu, một trong 4 châu lớn ở cõi Ta bà. Đức Thầy từng cho biết:
“Cõi trung ương luân chuyển phương Nam,
Mở hội Thánh chọn người trung hiếu”.
(Diệu Pháp Quang Minh)Tầm vóc của Phương Nam theo những gì ngài viết trong Sám Giảng hay Thi Văn Giáo Lý sau đây phải nói vượt ra ngoài không gian của miền Nam Việt Nam như một nơi tựu hội của Thần Tiên trong tương lai.
Phương Nam rạng ngọc chói lòa,
Lưu-ly hổ-phách mấy tòa đài cung.
Dành cho kẻ lòng trung chánh-trực,
Quân cùng Thần náo-nức vui-tươi.
Liên-hoa đua nở nụ cười,
Rước tôi lương-đống chào người chơn tu.
Thế-gian thoát chốn ngục-tù,
Thần Tiên hiệp mặt thì cù hóa long.(Xuân Hạ Tác Cuồng Thơ)
Quốc hiệu nước Việt Nam vào thời nhà Triệu (206-111 TCN). Theo tác giả Thiện Tâm, Thời Nhà Nguyễn gọi Nam Việt là miền Nam nước Việt Nam, thời Pháp thuộc gọi là Nam Kỳ.
- Ốc Mượn Hồn
Chú Giải từ trang 149 đến trang 161
THẰNG NGỐC: Do chữ “ngốc tử”, có nghĩa người ngu, kẻ mê muội nhu nhược, không thấy xa hiểu rộng, chẳng hề nghĩ đến việc hư nên tốt xấu sau nầy.
ỐC MƯỢN HỒN: Một loại động vật ở dưới nước hoặc sống trên bãi cát, hình giống con tôm, đầu có đủ râu, mắt, càng, que xem rất kỳ dị; mình nó như cục thịt tròn và mềm, không có vỏ cứng, phải chui vào vỏ ốc mà trốn các thủy tộc khác. Người ta thường lầm là ốc, nhưng ruột nó lại là thứ khác.
Nghĩa bóng chỉ cho hai trường hợp:
1- Chỉ cho hạng người sống tạm bợ, bấp bênh chẳng có nhà cửa căn cứ.
2- Chỉ cho hạng “mặt người lòng thú”. Tuy thấy là con người, nhưng lòng dạ của họ vô cùng độc ác gian xảo, thường lừa gạt ám hại kẻ hiền lương. Ông Sư Vãi Bán Khoai đã cho biết:“ Ác nhơn như ốc mượn hồn, Đừng thấy tu niệm ỷ khôn mà cười”.
CHIM TÌM CÂY MỚI GỌI CHIM KHÔN, NGƯỜI HIỀN ĐỨC MỚI LÀ NGƯỜI TRÍ: Hai câu nầy ý dạy: chim khôn thì tìm nơi có cây cao kín đáo mà đậu tất được sống an lành, khỏi bị bẫy dò của người ám hại, hoặc giả trời sắp giông bão, những chim khôn tự sớm tìm các rừng cây ẩn núp để khỏi bị tai nạn.
Còn người trí lúc nào cũng ăn ở hiền đức. Vì rằng: dù người có tài trí, uy dũng đến đâu mà thiếu đức thì chẳng thành công bền vững, như phe Hạng Võ chẳng hạn…Còn những người hiền đức luôn đặng vững bền và làm việc gì cũng được kết quả vẻ vang, như phía Hán Bái Công.
Cho nên, về mặt đời, ta nên chọn nơi nào có đức hạnh, có đường lối chánh nghĩa mà nương theo mới được yên lành bền vững:“Chim khôn lánh bẫy, lánh dò, Người khôn lánh chốn hồ đồ mới khôn”.(Tục ngữ). Hoặc là:“Chim khôn lựa cây lành mà đậu , Tôi hiền lựa chúa Thánh mà thờ”.
Về phương diện đạo đức thì người tu nên tìm con đường Chánh Đạo, có tôn chỉ, mục đích giải thoát mà qui y, mới gọi là người trí và sau nầy mới được liễu ngộ.TT-CGSGTVGL-PGHH
- Ngũ-Hành [NH]
NGŨ HÀNH: Năm chất: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Cũng gọi là năm vị thần xem xét và thưởng phạt việc tội phước của mọi người ở thế gian. Năm vị nầy có thể làm thiệt mạng những người hung ác, hoặc hết phước. Ông Sư Vãi có nói:“Chết mà còn nói còn cười, Là khi trong cõi Ngũ hành chẳng linh”.Và Ngài còn cho biết năm vị Ngũ Hành ấy là:
“Năm vị con vua Ngọc Hoàng,
Cho nên cõi thế coi mà năm cung.
Đại Giang là Liễu Lục Cung,
Coi về cõi nước chuyển luân cho trần.
Đại Lâm là Mộc Tinh Quân,
Coi trong thảo mộc vạn dân đều nhờ.
Đại Địa là vị Thổ Quan,
Coi về sở đất cho trần hạ đây.
Vạn dân gia đạo an hòa,
Hoặc là tử táng cũng là Thổ Quan.
Hỏa Tinh là vị lửa hồng,
Làm cho chín vật được trần độ thân.
Kim Tinh là vật báu châu,
Có diêm có mễ mà nuôi cõi trần.
Năm vị vốn thiệt năm Thần,
Chẳng thiếu nợ trần sao lại réo kêu ?”
-Ngũ Hành còn chỉ cho năm vị Phật Vương, chưởng quản việc sản sanh vật chất để nuôi dưỡng vạn
loại chúng sanh, gồm có:1- Đông Phương Giáp Ất Mộc Thanh Đế Chí Công Vương Phật.
2- Tây Phương Canh Tân Kim Bạch Đế Lãng Công Vương Phật.
3- Nam Phương Bính Đinh Hỏa Xích Đế Bửu Công Vương Phật.
4- Bắc Phương Nhâm Quí Thủy Hắc Đế Hóa Công Vương Phật.
5- Trung Ương Mồ Kỷ Thổ Huỳnh Đế Đường Công Vương Phật.
(Đức Phật Thầy Tây An khi xưa có truyền cho Đức Cố Quản cắm 5 cây thẻ quanh vùng Thất Sơn để bày trừ những cuộc trấn ếm của người Tàu, ý muốn ngăn chận các địa huyệt hiển linh của nước ta.
Mỗi cây thẻ có đề theo ngũ hành là:
1- Tại làng Vĩnh Hanh, tỉnh Long Xuyên, phía trong Hang Tra, gọi là “Đông Phương Thanh Đế”.
2- Tại Ngã Bát, rạch Cái Dầu, làng Thạnh Mỹ Tây, Quận Châu Phú, Tỉnh Châu Đốc, gọi là “Bắc Phương Hắc Đế”.
3- Tại Bài Bài, trên bờ kinh Vĩnh Tế, xã Vĩnh Ngươn, Tỉnh Châu Đốc, gọi là “Tây Phương Bạch Đế”.
4- Tại Giồng Cát rừng Tràm, Hà Tiên, gọi là “Nam Phương Xích Đế”.
5- Tại phía trước núi Cấm, bên cạnh giếng nước mà Đức Phật Thầy cho đào khi trước, làng Tú Tề, Châu Đốc, gọi là Trung Ương Huỳnh Đế.)
-Ông Sư Vãi cũng bảo:
“Cõi trần mà đặng bình an,
Nhờ đâu mà lại chê... - Thuấn-Nghiêu
LƯỢC GIẢI (Sám Giảng Quyển II từ câu 117 tới câu 124):
-Đoạn giảng trên Đức Giáo Chủ cho biết Tây Bá Hầu (Văn Vương) xưa kia, được người đời tôn là Hiền
Thánh, thế mà còn bị Trụ Vương bắt cầm tù tại Dũ Lý bảy năm. Huống chi công cuộc cứu đời của
Ngài thời nay làm sao tránh khỏi sự kềm kẹp của kẻ cường quyền vô đạo và tiếng đời gièm pha biếm
nhẻ.
-Nhìn lại chúng sanh đang lăn lóc trong bể trần thống khổ, hết nạn này tới ách kia không dứt, chẳng
khác nào thời Kiệt, Trụ xưa kia dân chúng phải buồn than khóc hận, dưới chế độ cay nghiệt của hai
nhà vua ấy. Bởi Kiệt, Trụ quá nhu nhược nên kẻ bị chết thiêu, người thì mất mạng; cơ đồ sự nghiệp
ông cha về tay người khác và còn lưu tiếng cho muôn đời phỉ nhổ.
Nghĩ thương cho Đức Thánh Vương, là bậc thông minh hiền đức, noi gương Nghiêu, Thuấn tu thân
lập hạnh, hầu:“Dựng cuộc hòa minh khắp đại đồng” cho nhân loại được hưởng nhờ.Thuấn: là Hoàng đế Shun (2256-2195 TCN). Họ tộc của ông là Yao, và tên thật của ông là Chong Hua. Ông là cháu đời thứ tám của Hoàng đế Huang. Ông là người con hiếu thảo, đứng đầu trong "Hai mươi bốn tấm gương hiếu thảo" của Trung Quốc.
Mẹ ruột của ông mất sớm. Cha ông, Gusou, lấy một người phụ nữ khác, người này sinh ra Xiang. (Mọi người thấy rằng Xiang nghe lời mẹ kế và có ý định giết Shun, không thể phân biệt đúng sai, nên gọi ông là Gusou, nghĩa là 'người mù'). Shun bị mẹ kế và em trai nổi loạn Xiang vu cáo, nên Gusou ghét Shun và định giết ông. Tuy nhiên, Shun luôn hiếu thuận với cha và hòa thuận với em trai.
Gusou sai Shun đến núi Lishi để cày ruộng. Nơi này nổi tiếng có nhiều thú hoang, nên cha ông muốn các con thú nuốt ông đi. Nhưng khi ông đến nơi, trời sai voi cày ruộng và chim gà hái cỏ. Thấy rằng chúng không thể hại ông, cha của anh đã sai anh đi đánh cá ở ao Leizhe, một nơi thường bị sóng lớn và gió mạnh quấy rối, nhưng khi anh đến, sóng êm và gió nhẹ.
Hoàng đế Yao, nghe về lòng hiếu thảo lớn lao của anh, đã triệu anh để gả con gái cho anh và truyền ngôi cho anh. Hoàng đế... - Minh-Chúa
LƯỢC GIẢI (từ câu 109 tới câu 116) Sám Giảng Q. II :
-Đoạn nầy Đức Thầy nhắc lại thời mạt Thương xưa kia, bởi Trụ Vương quá nhu nhược tàn ác, đắm
say tửu sắc, làm những việc càn bậy, không còn xứng đáng trị vì thiên hạ nữa, nên cơ luân chuyển
đổi lại nhà Châu. Lúc ấy có tiếng chim Phụng Hoàng gáy trên núi Kỳ Châu, đó là điềm lành báo hiệu
sẽ có Thánh Chúa ra đời.
-Bấy giờ Tây Châu nước Trung Hoa có cha con của Châu Võ Vương, vốn là người hiền đức, trị dân cả
nước chẳng cần có đồ lao mà dân vẫn tuân theo răm rắp. Mọi hạnh phúc của Vua Quan toàn dân
đều chung hưởng, xứng đáng là bậc mẫu nghi thiên hạ, nên cả 800 chư hầu đều mến đức theo về
nhà Châu.
So lại thời nay cũng thế, chánh sách trị dân quá tàn ác dã man, sanh linh đồ thán, nạn chiến tranh
chết chóc liên tiếp xảy ra khắp hoàn cầu. Cho nên sẽ có vị Thánh Chúa ra đời. Ngài có đủ đức hạnh,
lòng thương dân như sông dài biển rộng. Ngài sẽ đem lại cuộc hòa bình vĩnh cửu cho vạn quốc chư
bang. Điều nầy, Đức Giáo Chủ từng cho biết:“Trên non Tiên văng vẳng tiếng Phụng Hoàng, Phật Tiên
Thánh an bang cùng định quốc”(Không Buồn Ngủ.Thiện Tâm - Chú Giải Sám Giảng Thi Văn Giáo Lý (1975)
- Mạt Thương
MẠT THƯƠNG: Thời cùng cuối của nhà Thương bên Trung Hoa, tức là chỉ cho đời vua Trụ (1783-
1122 TCN)Đặc điểm nổi bật của Nhà Thương:
- Thời gian: Tồn tại khoảng 600 năm, từ Thành Thang đến Trụ Vương.
- Kinh đô: Dời đô nhiều lần, nổi tiếng nhất là Ân (An Dương, Hà Nam ngày nay).
- Kinh tế - Công nghệ: Đồ đồng phát triển đạt độ tinh xảo bậc nhất, sử dụng rộng rãi trong vũ khí và tế lễ. Thương nghiệp phát triển, tiền tệ bằng vỏ ốc.
- Văn hóa - Xã hội: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thần linh (đặc biệt là Đế/Thượng Đế) rất nặng nề. Giáp cốt văn (chữ viết trên mai rùa, xương thú) xuất hiện, là nguồn gốc của chữ Hán hiện đại.
- Chế độ chính trị: Phong kiến phân quyền, vua kiểm soát khu vực trung tâm, chư hầu cai trị các bộ lạc xa.
- Diệt vong: Do Trụ Vương bạo ngược, mất lòng dân, bị nhà Chu đánh bại.
Nhà Thương đánh dấu bước chuyển mình quan trọng từ xã hội nguyên thủy sang xã hội có giai cấp rõ rệt tại Trung Quốc, với những di sản văn hóa, đặc biệt là chữ viết, vẫn còn ảnh hưởng đến ngày nay.
- Núi-Sam
Núi Sam (Châu Đốc, An Giang) được gọi là núi Sam chủ yếu do hình dáng ngọn núi nhìn từ xa giống hệt một con sam biển khổng lồ nằm giữa đồng bằng. Ngoài ra, có giả thuyết cho rằng trước đây vùng này là biển, loài sam thường tập trung sinh sống, hoặc tên núi gắn liền với câu chuyện "sam" - chỉ người, mang hàm ý núi thiêng.
Các lý do chi tiết về tên gọi Núi Sam:
- Hình dáng (Phổ biến nhất): Núi cao 284m, nhìn xa hình thù giống một con sam (đầu quay về phía Tịnh Biên).
- Dấu tích biển xưa: Dân gian truyền lại thời xa xưa nơi đây là biển cả, sam tập trung sinh sống, khi nước rút để lại hình ảnh núi như con sam.
- Tên gọi khác - Vĩnh Tế Sơn: Vua Minh Mạng từng đặt tên là Vĩnh Tế Sơn để ghi công Thoại Ngọc Hầu đào kênh Vĩnh Tế (1819–1824).
- Ngọc Lãnh Sơn: Một tên gọi khác mang nghĩa là núi con sam.
Núi Sam là một trong những danh thắng nổi tiếng gắn liền với chùa Tây An, Miếu Bà Chúa Xứ, Lăng Thoại Hầu, Láng Linh, Kinh Vĩnh Tế, v.v.
Có nhiều câu chuyện núi Sam có liên quan đến một mối đạo khá phổ biến trong vùng An Giang là Bữu Sơn Kỳ Hương được khai sáng bởi một vị đạo sĩ có tên là Đoàn Minh Huyên, sau này được dân gian tôn xưng là Đức Phật Thầy Bổn Sơn, vì ngài đã cố hiến rất to lớn trong việc chữa bệnh dịch đang hoành hành trong nước, khai khẩn đất hoang và truyền bá đạo Phật đặt trọng tâm vào việc thực hành Tứ Ân. Triều đình nhà Nguyễn mới đầu nghi ông là gian đạo sĩ, nhưng sau cùng chấp nhận cho ông được truyền đạo tại vùng Thất Sơn, với chùa Tây An Tự toạ lạc chân núi Sam được xây làm nơi thờ tự. Ông có rất nhiều đệ tử rất thuần thành, trong đó có Đức Cố Quản Trần Văn Thành, ông Đạo Xuyến, v.v. Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo được xem là người kế tục sứ mạng của Đức Phật Thầy Tây An. Do đó, trong kinh sám của Đức Huỳnh Giáo Chủ, có không ít các bài thi nhắc đến mối quan hệ của ngài với...
- Tứ Ân
Tứ Ân còn gọi là Tứ Đại Trọng Ân gồm có bốn loại Ân mà bất cứ ai sống trên đời đều có bổn phận phải đền đáp theo quan niệm của Phật Giáo Hoà Hảo, cũng như trong nhiều tôn giáo khác như Phật Giáo. Bốn Ân đó là sắp theo thứ tự ưu tiên, nhưng cũng có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh của mỗi cá nhân:
- Ân Tổ Tiên Cha Mẹ
- Ân Đất Nước
- Ân Tam Bảo
- và Ân Đồng Bào Nhơn Loại
Để hiểu rõ hơn về Bốn Ân này, người ta có thể xem Quyển Sáu của Giáo Lý Phật Giáo Hòa Hảo, tựa là "Những Điều Sơ Lược Cần Biết của Một Người Bổn Đạo"
https://harmonybuddhism.org/ton-chi-hanh-dao-phan-i/
- Hàn Tín
Hàn Tín (giản thể: 韩信; phồn thể: 韓信; bính âm: Hán Xìn; 230 TCN – 196 TCN), thường gọi theo tước hiệu là Hoài Âm hầu (淮陰候), là một danh tướng của nhà Hán được người đời sau ca ngợi là Binh Tiên với khả năng cầm quân bách chiến bách thắng, thiên hạ vô địch. Ông được Hán Cao Tổ Lưu Bang ca ngợi là "Nắm trong tay trăm vạn quân đã đánh là thắng, tiến công là nhất định lấy thì ta không bằng Hoài Âm hầu."[1] thời Hán Sở tranh hùng.
Cùng với Trương Lương và Tiêu Hà, ông là một trong "Hán sơ tam kiệt" (汉初三杰) có công rất lớn giúp Hán Cao Tổ Lưu Bang đánh bại Hạng Vũ, lập nên triều đại nhà Hán kéo dài hơn 400 năm.
- Tam-Tự
Sách Ba Chữ hay Tam Tự Kinh (三·子經)·
Đoạn nầy, Đức Thầy cho biết trong sách “Tam Tự Kinh” của Đạo Thánh có dạy: Nguyên bản của con người trước kia đều có tánh hiền lành cả, tánh ấy đồng một thể chất với trời Phật. Song vì một tích tắc bất giác mà tạo nghiệp luân hồi, làm thân chúng sanh. Lúc mới chào đời, tâm tánh con người rất hồn nhiên nên chưa biết ham muốn, lần lần lớn lên tập nhiễm theo xã hội chung quanh rồi đắm mê danh lợi, sắc tài, hành động những điều xấu xa tội ác, khiến tánh thiện bị lấp vùi.
Nếu con người không được sự khuyên dạy đạo đức thì biết đâu để rèn luyện tâm xấu trở lại tâm tốt. Do đó, Đức Thầy dốc lòng nhắc nhở mọi người, hãy nhớ lại tánh thiện (Giác) của mình trước kia. Và trên con đường thức tỉnh bá gia của Ngài, dù cho người đời có chê bai hay ưa ghét cũng mặc.
Xưa kia, Đức Phật thuyết dạy kinh pháp nhiều như rừng, như bể, song thời nay số người xem, được liễu ngộ ý nghĩa thì chẳng có là bao. Bởi các đại đệ tử của Ngài chép lại toàn bằng chữ Phạn.
Tuy chư Tổ, chư Sư có phiên dịch ra Hán ngữ hoặc Việt ngữ; nhưng phần đông người lo tu tụng tán hê hà trên mặt văn tự, chớ ít có người thấu suốt được nghĩa lý trong đó để thực hành theo. - Hello World
The world is on the verge of a third world war!
- thiềng
hiền
- Khùng
Người mất trí khôn và hành động không theo khuôn mẫu xã hội có sẳn.
- Sáu Khắc
Sáu khắc tức là sáu đơn vị thời khắc mà ngày xưa người ta thường dùng để chỉ một thời gian có thể bằng một ngày, tiêu chuẩn thời gian có thay đổi theo từng thời kỳ. Gần đây nhứt là 15 phút theo thời nh̀à Nguyễn. Vậy sáu khắc tương đương với một tiếng rưỡi.
Một khắc là bao lâu?
Trong hệ thống tính giờ cổ truyền, một giờ được chia thành 4 khắc, 1 khắc tương đương với 15 phút. 1 khắc là một đơn vị đo thời gian cổ xưa của Việt Nam và giá trị của nó đã thay đổi qua các thời kỳ khác nhau.
- Xa xưa: 1 khắc được quy định bằng 1/6 ngày, tương đương với 2 giờ 20 phút.
- Sau đó: Giá trị của 1 khắc được điều chỉnh thành 1/100 ngày, tương đương với 14 phút 24 giây.
- Đến triều Nguyễn: 1 khắc được quy đổi lại thành 1/96 ngày, tương đương với 15 phút.
Hiện nay, đơn vị “khắc” không còn được sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày nữa, thay vào đó chúng ta sử dụng các đơn vị đo thời gian quốc tế như giây, phút, giờ. Tuy nhiên, đôi khi bạn vẫn có thể bắt gặp khái niệm “khắc” trong các văn bản cổ, các tác phẩm văn học hoặc các bộ phim sử thi.
- Đức Thầy Bửu Sơn
Đức Thầy Bửu Sơn tục danh là Đoàn Minh Huyên hay là Đoàn Văn Huyên, đạo hiệu: Giác Linh, quê ở Tòng Sơn, Cái Tàu thượng, tổng An Thạnh thượng, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Sau này ngài có danh xưng các môn nhân đệ tử của ngài thường gọi là Đức Phật Thầy Tây An, danh xưng Tây An nói về ngôi chùa có tên lâ chùa Tây An Tự tại Châu Đốc, Núi Sam nơi ngài trụ trì cho đến khi tịch diệt.
Năm 1849, ở Nam Kỳ, xảy ra vụ mất mùa và đại dịch (kéo dài đến 1850), đã làm nhân dân lâm vào cảnh cùng cực, khổ đau và chết chóc. Trong hoàn cảnh ấy, ông Đoàn Minh Huyên từ Tòng Sơn vào Tràm Dư, rồi đến vùng Kiến Thạnh (nay là làng Long Kiến, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang) trổ tài trị bệnh cho dân. Từ chỗ chữa trị bệnh có kết quả, ông dìu dắt được nhiều bệnh nhân và người thân của họ nghe theo những điều dạy khuyên của ông.
Thấy người tin theo ngày một đông, nên ngay năm ấy (1849), ông đã sáng lập ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, với tôn chỉ và phương pháp hành đạo rất đơn giản.
Đức Phật Thầy Tây An là một trong những cột mốc quan trọng nhất trong lịch sử tôn giáo nội sinh tại Nam Bộ Việt Nam. Ngài, tức Đoàn Minh Huyên, đã khai sáng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, một dòng chảy tâm linh độc đáo kết hợp giáo lý Phật giáo với tín ngưỡng dân gian và tinh thần yêu nước. Việc tìm hiểu về đức phật thầy tây an giúp chúng ta hiểu rõ nguồn gốc của nhiều phong trào tôn giáo sau này, tiêu biểu là Phật Giáo Hòa Hảo do Huỳnh Giáo Chủ sáng lập. Giáo lý của Ngài, đặc biệt là qua bài thơ Mười Điều Khuyến Tu, đã định hình phong cách tu tập tại gia cư sĩ đơn giản, thiết thực, nhấn mạnh vào việc thực hành Tứ Ân Hiếu Nghĩa ngay trong đời sống hàng ngày.
- Lower Age
This also means the Latter Days of the Dharma in the Three Ages of Buddhism. In contrast to the first two Ages, the Former and Middle Days, the first of which people may refer to the Golden One, the Latter Days has the characteristic of a Dark Era, during which Buddhism starts to decline in that its Dharma, however widespread across all areas of the planet were, has witnessed many learners but virtually no one who reached enlightenment as in the last Two Ages.
- Hạ Ngươn
Nguơn cuối cùng. Căn cứ vào luật tuần hoàn của lý Tam Nguơn được phân định và diễn tiến như sau:
1. Thượng Nguơn: gồm có Thượng Nguơn Thượng,
2. Trung Nguơn: gồm có Trung Nguơn Thượng, Trung Nguơn Trung, Trung Nguơn hạ.
3. Hạ Nguơn: gồm có Hạ Nguơn Thượng, Hạ nguơn trung, Hạ Nguơn Hạ.
- Prajna
Prajñā (प्रज्ञा) or paññā (𑀧𑀜𑁆𑀜𑀸) is a Buddhist term often translated as "wisdom", "insight", "intelligence", or "understanding". It is described in Buddhist texts as the understanding of the true nature of phenomena. In the context of Buddhist meditation, it is the ability to understand the three characteristics of all things: anicca ("impermanence"), dukkha ("dissatisfaction" or "suffering"), and anattā ("non-self" or "egolessness"). Mahāyāna texts describe it as the understanding of śūnyatā ("emptiness"). It is part of the Threefold Training in Buddhism, and is one of the ten pāramīs of Theravāda Buddhism and one of the six Mahāyāna pāramitās.
- Sám Giảng
Sám hay Sấm có nghĩa là sám hối, tiên tri.
Sấm Giảng Thi Văn của Đức Huỳnh Giáo Chủ là bộ pháp bảo, hàm chứa giáo thuyết căn bản, giúp người tín đồ PGHH hiểu biết tông chỉ và phương thức hành đạo.
Đức Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo khẳng định Ngài không lập một tôn giáo mới lạ. Ngài chỉ là vị thánh tăng vưng lịnh Đức Thế Tôn hạ giới xuống trần hưng truyền chánh pháp. Cho nên Ngài đã “nối theo chí Thích Ca ngày trước” và “rút trong các Luật các Kinh” để thành lập một giáo thuyết khế cơ, giản dị, dễ học, dễ tu cho căn cơ thấp kém của phần lớn chúng sanh trong thời Mạt pháp.
Tuy nhiên, dù cố giản dị đến đâu, một bộ Sấm Kinh chỉ vỏn vẹn khoảng 500 trang mà tóm lược cả “rừng kinh kệ” của chư Phật Thánh thì nội dung tất phải hàm súc cô đọng. Hơn nữa, về hình thức, lời lẽ có bình dị cũng không tránh khỏi việc cần sử dụng điển tích, điển văn, Hán ngữ, dụng ngữ Phật pháp, phương ngữ, …để diễn đạt tư tưởng. Đó là các lý do khiến người tu học đôi khi không dễ hiểu nếu thiếu phương tiện sưu tầm tra cứu.
- Vô Vi
Vô Vi
Vô vi là tư tưởng của triết gia Lão Tử trong Đạo giáo. Ông nói: "Vô vi nhi vô bất vi" (無為而無不為). Tạm dịch là: Không làm gì mà không gì là không làm. Hiểu một cách nôm na là, nếu bạn không làm gì mà thấy không việc gì thì không nên làm. Thiên nhiên trời đất vốn đã vận hành thành chu kỳ tự nhiên, nếu chúng ta tác động vào một yếu tố nào đó thì cũng là làm đảo lộn chu trình trên. Nếu chúng ta không làm gì cả thì tức là đảm bảo được chu trình trên vẫn hoạt động bình thường. Thuyết này đặc biệt hiệu quả trong trường hợp chúng ta chưa biết phải làm thế nào khi đứng trước một sự việc, theo Lão Tử thì tốt nhất là không nên làm gì cả.
- Bát Nhã
Bát-nhã (tiếng Phạn: Prajñā, tiếng Nam Phạn: paññā, chữ Hán: 般若) là thuật ngữ Phật giáo, hàm nghĩa Trí tuệ, Tuệ, Nhận thức.
Bát-nhã là một khái niệm trung tâm của Phật giáo Đại thừa, có nghĩa là trí tuệ (huệ) nhưng không phải do suy luận hay kiến thức đem lại, mà là thứ trí huệ của sự hiểu biết một cách toàn triệt (bất cứ thứ gì cũng nằm trong nó, ví dụ: "các định luật của Newton chỉ đúng trong điều kiện vận tốc rất nhỏ so với vận tốc ánh sáng", hay "những khái niệm này chỉ hoạt động được trong môi trường nước"), không mâu thuẫn (ví dụ: "ai cũng thắng"). Điều khó của trí tuệ này là không đến từ kết quả của lý luận logic, tuy nhiên có thể hiểu được khi đi đến tận cùng của lý luận (các khái niệm, phủ định của khái niệm). Đạt được trí Bát-nhã được xem là đồng nghĩa với giác ngộ và là một trong những yếu tố quan trọng của Phật quả. Bát-nhã là một trong những hạnh Ba-la-mật-đa (siêu việt) mà một Bồ Tát phải đạt đến (Thập địa).
- Đạo
Tao is the evolutionary mechanism of heaven and earth, and one of the beliefs of Chinese philosophy. It is believed that the Tao determines the "being" or "non-existence" of things and the form of existence in which living beings "live" or "die"; The natural phenomenon of coming into being, from being to nothing, and repeating itself is the result of the synergy of all things in the Tao; [4] There are two interpretations of the concept of "man is the law of the earth, the earth is the law of the sky, the heaven is the law of the Tao, and the Tao is the law of nature" There are two interpretations, the mainstream is that "nature" at that time is not "nature" today, but "natural", although the "Tao" is the one that gives birth to all things, but it is purposeless and unconscious, it is "born without being, for the sake of not being ashamed, and growing without slaughter", that is, it does not take all things as its own, does not boast of its own merits, does not dominate and dominate all things, but allows all things to develop naturally. It is doubtful that the later generations of Zen Buddhism interpreted it as "Tao" and imitated "nature" (in today's terms), which should be misunderstood.
Another explanation is the belief that man is conditioned by the earth, the earth is conditioned by heaven, the heavens are conditioned by the Tao, and the Tao is conditioned by nature[8]; Pursue the values of going with the flow and doing nothing.Đạo là cơ chế tiến hóa của trời và đất, và là một trong những tín ngưỡng của triết học Trung Hoa. Người ta tin rằng Đạo quyết định 'có' hay 'không tồn tại' của vạn vật và hình thức tồn tại mà sinh vật 'sống' hay 'chết'; Hiện tượng tự nhiên của việc sinh ra, từ tồn tại thành không tồn tại, và lặp lại chính nó là kết quả của sự hợp lực của tất cả mọi vật trong Đạo; [4] Có hai cách hiểu về khái niệm 'nhân là pháp của đất, địa là pháp của trời, thiên là pháp của Đạo, và Đạo là pháp của tự nhiên'. Có hai cách hiểu, nhưng phổ...
- Wu Wei 吴伟
无为(简体中文:无为;繁体中文:无为;拼音:wúwéi)翻译为“无为”或“毫不费力的行动”,是一个重要的古代中国概念。无为起源于春秋时期,最早出现在《诗经》中,成为儒家、中国治理和道教的中心思想。它通常指的是理想的政府国家,皇帝的行为,体现了个人和谐、自然自发性和自由放任的态度。无为表示一种特定的精神或精神状态,在儒家思想中,与既定的道德规范相一致。
- No-Action
Vô vi là tư tưởng của triết gia Lão Tử trong Đạo giáo. Ông nói: "Vô vi nhi vô bất vi" (無為而無不為). Tạm dịch là: Không làm gì mà không gì là không làm. Hiểu một cách nôm na là, nếu bạn không làm gì mà thấy không việc gì thì không nên làm. Thiên nhiên trời đất vốn đã vận hành thành chu kỳ tự nhiên, nếu chúng ta tác động vào một yếu tố nào đó thì cũng là làm đảo lộn chu trình trên. Nếu chúng ta không làm gì cả thì tức là đảm bảo được chu trình trên vẫn hoạt động bình thường. Thuyết này đặc biệt hiệu quả trong trường hợp chúng ta chưa biết phải làm thế nào khi đứng trước một sự việc, theo Lão Tử thì tốt nhất là không nên làm gì cả Wiki Vô vi (Đạo giáo) – Wikipedia tiếng Việt
Non-Action
- Cửu Huyền Thất Tổ
Cửu Huyền Thất Tổ (chữ Hán: 九玄七祖) là cụm từ thường xuất hiện trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam, với ý nghĩa bao gồm các vị ông bà tổ tiên đã mất. Khi khấn vái trước bàn thờ gia tiên, người chủ lễ sẽ khấn "Cửu Huyền Thất Tổ", hàm ý gửi lời khấn nguyện đến tất cả các vị. Trên ban thờ gia tiên của nhiều gia đình người Việt thường có một bài vị (thần chủ) chính giữa, đề bốn chữ "Cửu Huyền Thất Tổ" bằng chữ Hán hoặc chữ Quốc ngữ.
Tuy hai cụm từ "Cửu Huyền" và "Thất Tổ" đều xuất hiện trong cổ văn Trung Quốc, nhưng toàn bộ cụm từ lại không được sử dụng trong văn hóa Trung Quốc hiện đại. Có thể khái niệm "Cửu Huyền Thất Tổ" trở nên phổ biến hơn sau khi du nhập vào Việt Nam, góp phần vào sự đại đồng tiểu dị giữa hai nền văn hóa.
- Núi Tà Lơn
Núi Tà Lơn, địa danh tiếng Việt này thuộc nước Kampuchea, Bokor, cách thành phố Kampot 10 cây số về phía Tây Nam, được coi là “Thánh địa của bậc tu hành”. Trong các thư tịch, kinh sách ghi chép Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên, Huỳnh Phú Sổ, Bổn sư núi Tượng Ngô Tư Lợi, Phật Trùm, Phật sống Cử Đa, Sư vãi bán khoai…. đều tu luyện trên đỉnh núi thiêng Tà Lơn.
Bokor National Park
Bokor National Park is an unmissable trip out from Kampot. Explore the romantic, highly atmospheric old casino — a legacy from Cambodia’s colonial days — as well as impressive waterfalls (during rainy season), plus a stunning, winding journey that takes you more than a kilometre above sea level. This is a full, thrilling day and we thoroughly recommend doing this under your own steam rather than with a group, so that you can take the time to explore at your leisure.
Established by the French as a hill station in 1925, Bokor has been abandoned twice, during World War II and the Khmer Rouge period. The area including Bokor ‘mountain’ was established as a national park in 1993, with its 1,500 square kilometres spanning four Cambodian provinces. Despite substantial illegal logging, it’s still home to leopard cats, gibbons, hornbills, civets and sun bears.
- Làng Mỹ Hội Đông
Xã Mỹ Hội Đông được chia thành 10 ấp: Mỹ Hoà, Mỹ Thuận, Mỹ Hội, Mỹ Hòa A, Mỹ Tân, Mỹ Hòa B, Mỹ Thành, Mỹ Thạnh, Mỹ Đức, Mỹ Phước
- Ngọc-Hoàng
“Thấy trong bá tánh ngẩn-ngơ,
Nay Thầy xa tớ bơ-vơ một mình.
Gẫm trong hai chữ nhục-vinh,
Xưa nay thiên hạ kệ kinh ít dùng.
Cúi đầu tâu lại cửu trùng,
Ngọc-Hoàng ban chiếu lão Khùng giáo-dân.
Gái trai lớn nhỏ ân cần,Chùi lau vẹn mặt thì gần Thánh Tiên”.
TỪ GIÃ BỔN ĐẠO KHẮP NƠI
(SGTVTB 2004, tr. 18– 25)
Đức Thầy trông thấy tình cảnh tớ thầy xa cách ai cũng ngẩn ngơ. Người sống trong cảnh đời sự vinh nhục là lẽ thường, nó cũng là một định luật không ai tránh khỏi. Từ xưa đến nay đa số người chạy theo lợi danh, quyền tước, nên ít ai chịu nghe theo lời kinh tiếng kệ. Đức Thầy tấu trình điều này với Đức Ngọc Đế; Ngài nghe liền
ban chiếu cho Đức Thầy có trách nhiệm giáo khuyên dân chúng.
Ngài kêu gọi gái trai lớn nhỏ từ đây hãy cần chuyên tu sửa chùi lau cho thân tâm mình được trong sạch, tất sau
này được gần gũi Tiên Phật.Theo văn hóa truyền thống các dân tộc Đông Á, vị chúa tể của các tôn giáo gọi chung là Ngọc Hoàng, thay thế cho vị chúa tể thứ nhất. Theo Lão giáo, đây là vị trợ tá cho Vạn Thế Thiên Tôn, (gọi tắt là Đấng Thế Tôn), là một trong Ba Vị Thanh Khiết (gọi tắt là Tam Thanh), Ba Nguyên Thể của Đạo. Đấng ấy cũng là vị có quyền năng cao nhất của Cao Đài trong Cao Đài Giáo được biết đến như là Ngọc Hoàng Thượng Đế.
Theo vũ trú quan của Phật Giáo, Đấng ấy đồng nghĩa với Sakra (1). Theo thần thoại học của Hàn Quốc, Đấng ấy gọi là Haneullim. Ngọc Hoàng hay Ngọc Đế được biết đến dưới nhiều danh xưng, gồm có Thiên Công, nguyên thủy chức là "Công Tước", thường được dùng bời thường dân; Ngọc Đế; Đệ Nhất Hoàng Đế; Ngọc Hoàng Thượng Đế.
Người Việt Cổ đã sử dụng thần thoại Thần Trụ Trời để giải thích về nguồn gốc của thế giới. Sau này khi đạo Lão từ Trung Quốc du nhập vào Việt Nam thì Ông Trời mới được gọi là Ngọc Hoàng.
Open Wikipedia: Ngọc Hoàng Thượng Đế
Sakra: Theo Phật Giáo, Sakra được xem như chúa của các vị thần và, không như trong Ấn Độ giáo, Indra và Sakra là các vị thần khác nhau. Sakra được gọi Sakra Devanam...
- Khùng Điên
Đức Thầy xưng Điên hay Khùng trong suốt 5 cuốn Sám Giảng có nhiều lý do: Thứ nhứt, ngài muốn tránh sự dòm ngó của mật thám Tây nhiều nhất có thể, chúng luôn tìm cách tiêu diệt những mầm móng kháng chiến chống lại chúng,
Thứ hai, ngài mượn hai chữ Khùng Điên cũng để nói lên hoàn cảnh ngang trái lúc ngài mới ra đời dạy đạo, nhiều người không hiểu dèm pha, đàm tiếu, đến nỗi nặng lời xúc phạm, nên ngài tuy xưng vậy nhưng các tín đồ của ngài hay những ai có cơ duyên đều nhận ra ngài chỉ muốn ẩn danh mà thôi, chứ qua các hiện tượng mầu nhiệm xảy ra xung quanh ngài thì không ai có thể nghi ngờ ngài là bậc thánh nhân ra đời lúc nạn tai để cứu vớt quần sanh.
Theo sử sách ngày xưa cũng có nhiều bậc anh hùng hào kiệt, vì muốn tránh bị hại, điển hình như Hàn Tín, Lưu Bị, Tôn Tẩn, vô số trường hợp khác, đều giả điên giả khờ để qua truông, để dễ dàng hòa nhập với quần chúng và giáo hóa họ.
Lord Master called Himself Crazy or Mad throughout the five (5) volumes of the Oracles for many reasons.
First, he wanted to avoid the scrutiny of French detectives as much as possible, who always sought to eliminate any sign of insurrection against them.
Secondly, He borrowed these two words, Mad and Crazy, also to refer to the adverse circumstances under which He started his Mission. Many did not understand Him, thus deriding Him and, sometimes, going as far as offending Him. In this ense, He only wanted to hide his true identity. However, his followers or those who had predestined conditions with him realized that he only wanted to remain anonymous. Through the mysterious phenomena that occurred around him, no one could doubt that he was an holy man born down the world to save all the sentient beings.
In the old days, it was said that many heroes who, because they wanted to avoid being unnecessarily harmed, such as Han Tin, Liu Bei, Sun Tẩn, and in countless other cases, all pretended crazy to pass through, to easily intermingle with the masses in order to transform them.
- Quy Y
Quy Y Taking Refuge Khi nhắc đến ý nghĩa chữ Quy Y, trong bài Pháp luận “Lời khuyên Bổn đạo” mà Đức Thầy viết tại Bạc Liêu vào năm Nhâm Ngũ (1942), Ngài giải thích như sau: …"Ngày nay đã tỉnh-ngộ quy-y cùng Phật pháp. Như vậy cửa trường-sanh bất diệt các trò đã gặp nẻo, nương đèn trí-huệ, ly xuất phàm-trần, chán cảnh phồn hoa tìm nơi tịch-tịnh. Nhưng các trò tuy lòng mộ Đạo, chớ chưa hiểu rành nẻo bước đường đi. Hãy tạm xét chữ Quy-y cho thấu đáo: Quy là về, mà về đâu ? về cửa Phật. Y có nghĩa là vâng lời theo khuôn mẫu. Vậy Quy-y đầu Phật là nương nhờ cửa Phật và làm y theo lời Phật dạy. Phật từ-thiện cách nào ta phải từ-thiện theo cách nấy. Phật tu cách nào đắc Đạo rồi dạy ta, ta cũng làm theo cách nấy. Thầy cảnh tỉnh giác-ngộ điều gì chánh đáng thì khá vâng lời. Cần nhứt ở chỗ giữ giới luật hằng ngày.” Referring to Quy Y, in one of His sermons, “Commandments for Fellow Adherents”, written in Bac Lieu in 1942, Lord Master explained thus: “You have now awakened to take refuge in Buddha Dharma. As such, you have met the path to immortality and, with your acumen, keep away from worldliness and opulence but seek for a tranquil place. However pious you were, you have not well understood how to go about it. Let’s elaborate the word “Take refuge”. It means ‘return’ but where to? To Buddha’s gate. ‘Refuge’ is a set of principles which are to be adhered to. So, ‘take refuge’ in Buddha is lean on Buddha’s gate and adhere to His teachings. As Buddha is compassionate, so too shall we be. As He practised and got enlightened then taught us, so too shall we do. If your Master exhorts you what is rightful, you should obey Him. Most importantly, you observe all precepts daily.” - Mad and Crazy
The person who are not restrained by reason nor judgement, very angry, mentally ill. However, if someone calls themselves Mad or Crazy, they may not be so, as they pretend to be so, and they do so for a certain purpose, such as avoiding the attention of others who may harm them if they find out who the latter are. In history, there were many characters who put on such such unusual masks as Mad or Crazy, Beggar, Drunkard, etc, so that they hide their identity more effectively lest they should risk being put in danger. These people might pursue a covert mission. In this case, Lord Master played this role for many reasons:
First, Lord Master has accomplished His full enlightenment and went back to the world as a Bodhisattva to save the world. Thus, given that a lot of people would obstruct His mission if they knew it straight away, He might not be able to test their level of moral practice, and to teach them when they realize they made a mistake.
Second, there were a lof authorities from different government levels would suspect Him of plotting their government if He attracted a lot of followers. In order to avoid the intelligence agents, He must pretend to be a commoner, a poor or disabled person.







